Image
Giảng viên đại học Y Hà Nội - Bác sỹ phẫu thuật chuyên khoa Cơ xương khớp
Phó giám đốc Bệnh viện Đa Khoa Xanh Pôn Hà Nội (St Paul University Hospital)
Lịch khám

1.Dungbacsy’s Office: chiều thứ 2 và chiều thứ 5 hàng tuần, 17h – 19h, vui lòng liên hệ trước qua điện thoại 09 44 66 22 99
2.Sáng thứ 2: Bệnh viện St Paul, (Trung tâm Kỹ thuật cao, ĐT: 0966 64 64 88)
3.Sáng thứ 7: Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội, 1 Tôn Thất Tùng (phòng 104 nhà A5, ĐT: 043 574 3456)
Mọi liên hệ cần thiết xin liên lạc với thư ký qua số điện thoại: 09 44 66 22 99
           Khám miễn phí cho bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách tại Dungbacsy's Office vào các buổi khám trong tuần.
 

Hoại tử xương vô khuẩn

Hoại tử xương vô khuẩn
Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi khá thường gặp ở giai đoạn hiện nay, nguyên nhân được cho là có yếu tố tổn thương mạch nuôi nên đôi khi còn được gọi là hoại tử vô mạch (avascular necrosis of femoral head). Về lý thuyết, hoại tử xương có thể gặp ở nhiều vị trí khác nhau tuy nhiên không phổ biến như ở chỏm xương đùi. Nhân 1 trường hợp hoại tử mâm chầy được chẩn đoán và điều trị, chúng tôi xin giới thiệu những nội dung căn bản liên quan đến bệnh lý này.
Xương là một mô sống, cũng giống như bất kỳ một phần khác của cơ thể, đòi hỏi cần máu và oxy đề tồn tại. Trong hoại tử vô khuẩn, dòng máu cung cấp tới xương bị gián đoạn và gây chết cho xương vùng nó cấp máu. Thuật ngữ “hoại tử vô khuẩn xương” là thuật ngữ cho “sự chết của xương”, và tình trạng này gọi là “hoại tử vô mạch”.
Khi vùng xương mất nguồn cung cấp máu của nó thì hệ quả sẽ dẫn đến hoại tử vô khuẩn xương. Khi đó, cơ thể sẽ cố gắng thay thế nó bằng tăng sinh vùng xương còn sống nhưng một cách từ từ. Tuy nhiên, quá trình này sẽ làm mềm xương và hấp thu xương hoại tử để tân tạo xương mới. Đó là thời gian xương suy yếu tạm thời, dễ gây gãy và sập xương.

Nguyên nhân.
Mặc dù hoại tử vô khuẩn xương có rất nhiều nguyên nhân, nhưng đại đa số không biết chính xác nguyên nhân của sự hoại tử xương của mình là gì, cho nên bệnh này được coi là vô căn. Tuy cơ chế chính xác vẫn chưa được hiểu rõ, nhưng các nguyên nhân vô căn của bệnh hoại tử vô khuẩn xương được kết hợp với các điều kiện bệnh khác sẽ được trình bày phía dưới đây:
Một giả thuyết cho rằng các giọt chất béo hình thành bên trong các tiểu mạch máu của xương, dẫn đến tắc nghẽn các mạch máu này và giảm lưu thông mạch máu. Ngoài ra, một số bệnh nhân có hoạt động đặc biệt hoặc chấn thương, là kết quả của một đụng dập xương hoặc gãy xương. Nó đã được đánh dấu nếu áp lực trong xương được đo bằng diện tích hoại tử xương, thường có sự tăng đáng kể áp lực cùng với tủy xương nhiều mỡ.
Phụ nữ thường bị ảnh hưởng nhiều hơn, điển hình là gấp 3 lần so với nam giới, và nó phổ biến hơn ở những người trên 60 tuổi.
Những điều kiện được cho là có liên quan tới bệnh hoại tử vô khuẩn xương là:
-       Béo phì.
-       Hồng cầu hình liềm.
-       Thalassemia
-       Lupus
-       Bệnh nhân ghép thận và lọc máu
-       HIV
-       Bệnh nhân có cơ địa lưu trữ chất béo nhiều như bệnh Gaucher, hay bênh nhân được điều trị steroid.
Trong bệnh Thalassemia và hồng cầu hình liềm, bệnh hoại tử vô khuẩn là hệ quả của việc thay đổi hình dạng các tế bào máu, đó chính là điều kiện để chúng tụ lại và ngăn chặn các mạch máu nhỏ và tiểu mạch máu nhỏ trong xương.
Hoại tử nguyên nhân do dùng steroid thường là hệ quả do dùng trong một thời gian dài liều cao như điều trị bệnh lupus và các bệnh khác, hoặc hiếm hơn là ở những bệnh nhân điều trị một liều đơn nhưng là liều lớn. Nó ảnh hưởng đến nhiều khớp như hông, đầu gối, vai, và có thể được nhìn thấy trong các nhóm bệnh nhân trẻ hơn.
Một yếu tố khác đi cùng với bệnh hoại tử vô khuẩn xương là uống rượu nhiều. Rượu là một yếu tố nguy cơ cao cho sự phát triển của bệnh, cũng hay xảy ra ở khớp hông, gối và các nơi khác.
Hoại tử vô khuẩn xương cũng có thể xảy ra ở các bệnh nhân hen suyễn được điều trị bằng steroid.

Lâm sàng
Thông thường, hoại tử ở mâm chầy khởi phát đột ngột đau. Nó có thể khởi phát bởi một hoạt động dường như là thói quen hoặc chấn thương nhỏ. Ngoài ra, bệnh nhân đã được chẩn đoán thoái hóa xương khớp nhẹ đến trung bình, nhưng bệnh nhân đột nhiên có triệu chứng lâm sàng nặng lên ở vùng hoại tử xương đó, làm cho tình trạng lâm sàng xấu đi.
 Hoại tử xương thường được gắn liền với những cơn đau tăng lên khi hoạt động và vào ban đêm. Nó cũng có thể gây sưng đau đầu gối và nhạy cảm với cảm giác và áp lực, và dẫn đến giảm vận động khớp gối.

Chẩn đoán hình ảnh.
1)   Xquang.
Độ nhạy thấp trong giai đoạn bệnh sớm.
Chỉ chẩn đoán sau khi sụp xương hoặc phát triển dấu hiệu hình liềm.


Hình ảnh X quang của bệnh nhân hoại tử vô khuẩn mâm chầy cho thấy chưa phát hiện được bất thường
2)   CT.
Độ nhạy nhất cho việc phát hiện gãy xương dưới sụn.
3)   MRI.
Độ nhạy và độ đặc hiệu là 100%, đây là phương pháp chính để xác định những thay đổi ban đầu của vùng hoại tử.
Các dấu hiệu hoại tử vô khuẩn trên phim MRI:
-       Chứng tỏ có vùng hoại tử: tăng tín hiệu trên T1W và T2W
-       Có vùng bất thường:
+ xác định rõ vùng tăng tín hiệu trong khu vực thuộc khớp
+ vùng bất thường lớn giảm tỷ trọng SI.
+ Vòng nhẫn: có vùng giảm SI hình nhẫn xung quanh khu vực có tín hiệu SI bình thường.
-       Dấu hiệu hai dòng.
+ Thay đổi trên chuỗi T2W.
+ Xảy ra ở vùng xương sống và vùng xương chết.
+ Bao gồm vành ngoài là vùng xương bị xơ cứng, vòng trong là vùng xương mô hạt mạch máu.

  
Hình ảnh cộng hưởng từ của bệnh nhân hoại tử vô khuẩn mâm chầy


Hình ảnh hoại tử lồi cầu trong xương đùi trong phẫu thuật


Hình ảnh hoại tử lồi cầu trong xương đùi


Hình ảnh hoại tử lồi cầu trong xương đùi

Chẩn đoán xác định.
Hoại tử vô khuẩn xương đùi ở giai đoạn đầu có thể khó chẩn đoán vì thường nó không rõ ràng trên phim Xquang. Trong những trường hợp như thế, CT hoặc MRI có thể là cần thiết để chẩn đoán giai đoạn sớm của bệnh.

Chẩn đoán giai đoạn bệnh.
Theo Association of Research Circulation Osseous (ARCO), hoại tử vô khuẩn xương được phân thành 5 giai đoạn sau:
Giai đoạn 0: không có triệu chứng, Xquang bình thường.
Giai đoạn 1:  có triệu chứng, Xquang bình thường, MRI hoặc sinh thiết dương tính.
Giai đoạn 2: Xquang dương tính nhưng chưa có biến chứng sụp hay gãy xương.
Giai đoạn 3: Có dấu hiệu lưỡi liềm, nhưng đường viền bình thường.
Giai đoạn 4: Đầu xương đùi bẹt, sập sụn.
Giai đoạn 5: Có biến chứng về xương như gãy xương, sụp xương.

Điều trị
1)   Không phẫu thuật.
Việc điều trị ban đầu thường là không phẫu thuật, tập trung vào giảm đau, bảo vệ khớp và điều trị nguyên nhân tiềm ẩn nếu nó tồn tại.
Bệnh nhân bị hoại tử xương đầu gối (giai đoạn 1) có thể được điều trị bằng nạng để giảm áp lực lên khớp gối, ngăn chặn sự sụp đổ nặng thêm của khớp đã yếu. Nẹp khớp gối, có vai trò tương tự như dùng nạng. Điều trị nội khoa có thể bao gồm điều trị bằng nhóm thuốc bisphotphonates để ngăn ngừa sự suy yếu của xương, và các thuốc tăng chuyển hóa chất béo như nhóm statin. Các loại thuốc về mặt lý thuyết có ảnh hưởng đến chuyển hóa chất béo, có thể gây bệnh, nhưng điều trị các vấn đề về xương thì về cơ bản là tốt.
Bệnh ở giai đoạn 2 có thể thấy thay đổi trên phim Xquang, nó mất từ vài tuần đến vài tháng đê tiến tới giai đoạn này. Xquang thường sẽ thấy sự sụp đổ xương bên dưới sụn, MRI hay CT có thể được chụp để chẩn đoán xác định ở bệnh nhân này nếu trên phim Xquang ko rõ tổn thương. Thỉnh thoảng CT được sử dụng để chẩn đoán vùng hoại tử. Ở những bệnh nhân này, nhiều khả năng sẽ phát triển đến thoái hóa khớp nặng và có thể phải cần can thiệp phẫu thuật.
2)   Phẫu thuật.
Phẫu thuật ở giai đoạn 1 và 2 còn nhiều tranh cãi. Đã có một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tái thông mạch máu ở vùng xương đã bị hoại tử, hoặc tạo một nguồn cung cấp máu mới, để tạo điều kiện tái tạo xương mới. Ghép sụn cũng được xem xét trong bệnh giai đoạn 2.
Bệnh giai đoạn 3 khi bề mặt khớp đã sụp và trở nên bằng phẳng. Trên phim Xquang thường nhìn thấy được hình ảnh sụp đổ xương này và bề mặt khớp bất thường. Nhưng các tổn thương sụn thì không thể nhìn thấy trên Xquang mà chỉ có thể nhìn thấy trên phim MRI. Điều trị mổ như lấy tổ chức hoại tử, ghép xương hoặc ghép sụn có thể được xem xét ở bệnh nhân trẻ tuổi. Còn ở bệnh nhân già tuổi, thoái hóa khớp tiến triển thì phẫu thuật thay khớp có thể là cần thiết.
Bệnh ở giai đoạn 4 là khi hoại tử xương đã nghiêm trọng, thoái hóa xương và các khớp. Các bề mặt sụn khớp đã bị phá hủy và thay đổi nhìn được trên phim Xquang. Những bệnh nhân này có triệu chứng và được điều trị như bệnh nhân thoái hóa khớp điển hình, trong đó bao gồm cả điều trị triệu chứng cho đến khi thay khớp là cần thiết.
Sự cần thiết phải đưa ra để can thiệp phẫu thuật trong hoại tử xương đầu gối được dựa trên một số yếu tố, bao gồm cả vị trí hoại tử và mức độ thiệt hại khớp. Tổn thương nhỏ có thể không đi đến sụp đổ rộng và tổn thương khớp. Tổn thương hoại tử xương mà không nằm trong vùng xương chịu tải trọng lực có thể được giải quyết khi tổn thương lành lại. Bệnh nhân bị hoại tử xương ở phần chịu trọng lực với diện tích lớn ở khớp gối thì nhiều khả năng phải dùng đến phẫu thuật để giải quyết triệt để.
Khi các biện pháp bảo tồn không làm giảm được triệu chứng, bao gồm cả thay đổi thói quen, mang nạng hay nẹp gối, kết hợp dùng thuốc thích hợp, thì phẫu thuật được xem xét.
Đối với bệnh nhân trẻ, thường dưới 50 tuổi và tùy thuộc vào diện tích và mức độ tổn thương, có nhiều cách phẫu thuật khác nhau có thể được chỉ định. Trong số này có nội soi loại bỏ sụn khớp hư hỏng và/hoặc khoan (để giảm áp lực trong xương và tái cung cấp máu), lấy tổ chức xương hoại tử và bề mặt hư hỏng của mặt khớp. Ngoài ra còn có các phẫu thuật để thay thế hay tái tạo liên quan đến xương và sụn. Đối với người lớn tuổi, thay thế khớp một phần hoặc toàn bộ là hướng điều trị phẫu thuật thông thường.
Lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào mức độ và vị trí của vùng hoại tử vô khuẩn xương, tuổi của bệnh nhân và mức độ hoạt động. Điều quan trọng là tham khảo ý kiến của một bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình có kinh nghiệm trong bệnh này, bao gồm tất cả các lựa chọn phẫu thuật mà có thể dẫn đến kết quả tốt nhất.



Hình ảnh thay khớp gối điều trị hoại tử lồi cầu xương đùi và mâm chầy

Tài liệu tham khảo
[1] S. Ahlback, GC Bauer, and WH Bohne, "Spontaneous osteonecrosis of the knee, "Arthritis & Rheumatism, vol. 11, no.6, pp. 705-733, 1968.
[2] Zywiel MG, MS McGrath, Seyler TM, DR Marker, PM Bonutti, and MA Mont, "Osteonecrosis of the knee: a review of three disorders, "Orthopedic Clinics of North America, vol.40,it. 2, pp. 193-211,2009.
[3] Mont MA, Marker DR, MG Zywiel, and JA Carrino, "Osteonecrosis of the knee and related conditionsEND_SPAN," Journal of American Academy of Orthopaedic Surgeons the, vol. 19, no. 8,pp. 482-494, 2011.
[4] SC Mears, EF McCarthy, Jones LC, Hungerford DS, and MA Mont, Characterization and pathological charac-teristics of spontaneous osteonecrosis of the knee, "The Iowa Orthopaedic Journal, vol. 29, pp. 38-42, 2009.
[5] EJ Strauss, R. Kang, C. Bush-Joseph, and BR Bach Jr.,"The diagnosis and management of spontaneous and Post-osteonecrosis of the knee arthroscopy, "Bulletin of the NYU Hospital for Joint Diseases, vol. 69, no. 4, pp. 320-330, 2011.

Trần Trung Dũng, Phạm Sơn Tùng (tổng hợp)
Tin cùng chuyên mục
U cuộn mạch mặt ngoài khuỷu tay: một nguyên nhân hiếm gặp gây nhầm lẫn với Tennis Elbow (25/07/2017)
U cuộn mạch mặt ngoài khuỷu tay: một nguyên nhân hiếm gặp gây nhầm lẫn với Tennis Elbow
U cuộn mạch mặt ngoài khuỷu tay: một nguyên nhân hiếm gặp gây nhầm lẫn với Tennis Elbow
Đau mỏm trên lồi cầu ngoài, còn gọi là Khuỷu tay người chơi tennis (Tennis Elbow) khá thường gặp nhất là ở những người chơi thể thao, bản chất của tổn thương này là tình trạng viêm điểm bám của các gân duỗi cổ bàn tay. Điều trị có nhiều hướng tuỳ theo mức độ từ nội khoa, lý liệu pháp cho đến can thiệp phẫu thuật. Việc chẩn đoán cơ bản dựa vào lâm sàng, có thể đánh giá thêm bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm hoặc cộng hưởng từ. Tuy nhiên, không phải tất cả các tình trạng đau mỏm trên lồi cầu ngoài đều là tình trạng viêm gân. Xin giới thiệu 1 trường hợp u cuộn mạch vị trí mỏm trên lồi cầu ngoài khá hiếm gặp được phát hiện và điều trị phẫu thuật thành công. Trân trọng !...
TUMOROSCOPY: khái niệm mới trong điều trị các tổm thương u gần khớp ? (25/07/2017)
TUMOROSCOPY: khái niệm mới trong điều trị các tổm thương u gần khớp ?
TUMOROSCOPY: khái niệm mới trong điều trị các tổm thương u gần khớp ?
Đối với các thuật ngữ y học tiếng anh, tiếp đuôi ngữ scopy nghĩa là nội soi, ví dụ Arthroscopy là nội soi khớp; Laparoscopy là nội soi ổ bụng,... Việc ứng dụng nội soi khớp ngày càng rộng rãi, không chỉ là các tổn thương do chấn thương, do bệnh lý thoái hoá mà bắt đầu sử dụng trong điều trị các tổn thương bệnh lý u vùng gần khớp, tất nhiên có chọn lọc kỹ về mặt chỉ định. Những ứng dụng này được báo cáo với số lượng nhỏ lẻ, không nhiều nhưng đa số các tác giả nhận thấy những ưu điểm của nội soi trong vấn đề đánh giá tổn thương, can thiệp lấy tổ chức u triệt để và quan trọng hơn là bảo tồn được tối đa chức năng của khớp. Việc can thiệp lấy tổ chức u qua nội soi gối không chỉ đơn thuần thực hiện thông qua quan sát từ bên ngoài mà chúng tôi còn đưa camera vào trong khối u để quan sát và đánh giá, đảm bảo lấy được hết tổ chức u. Việc thực hiện quan sát trực tiếp từ bên trong khối u làm chúng tôi nghĩ tới thuật ngữ TUMOROSCOPY ( tumor: khối u và scopy: nội soi) nhằm mô tả rõ hơn kỹ thuật thực hiện khi can thiệp các trường hợp u gần khớp như thế này.

...
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U TẾ BÀO KHỔNG LỒ BAO GÂN TRONG KHỚP GỐI (11/07/2017)
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U TẾ BÀO KHỔNG LỒ BAO GÂN TRONG KHỚP GỐI
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U TẾ BÀO KHỔNG LỒ BAO GÂN TRONG KHỚP GỐI
U tế bào khổng lồ bao gân màng hoạt dịch (tenosynovial giant cell tumor) thường xuất phát từ màng hoạt dịch của bao khớp, bao gân, túi hoạt dịch,... U tế bào khổng lồ bao gân màng hoạt dịch được mô tả lần đầu tiên bởi Jaffe và cộng sự năm 1941 cũng còn được biết như 1 hình thái của viêm màng hoạt dịch thể lông nốt sắc tố. U tế bào khổng lồ nói riêng và các tổn thương u mô mềm khác trong khớp gối nói chung rất hiếm gặp. Đa số các báo cáo chỉ mô tả 1 trường hợp hoặc 1 vài trường hợp. Nhân 1 trường hợp u tế bào khổng lồ trong khớp gối được điều trị thành công bằng phẫu thuật nội soi, xin trân trọng giới thiệu 1 đoạn video mô tả khối u quan sát qua nội soi....
Hoại tử vô khuẩn xương nguyệt cổ tay(Kienbock disease): một nguyên nhân của đau khớp cổ tay (21/06/2017)
Hoại tử vô khuẩn xương nguyệt cổ tay(Kienbock disease): một nguyên nhân của đau khớp cổ tay
Hoại tử vô khuẩn xương nguyệt cổ tay(Kienbock disease): một nguyên nhân của đau khớp cổ tay
Khớp cổ tay có cấu trúc giải phẫu khá phức tạp với hệ thống 8 xương con giúp cho vận động cổ tay linh hoạt và tinh tế. Bên cạnh đó, nhiều cấu trúc phần mềm: gân, mạch máu và thần kinh đi gần làm cho xác định căn nguyên các khó chịu của vùng khớp cổ tay không dễ dàng. Bệnh lý Kienbock là tình trạng hoại tử vô mạch của xương nguyệt, 1 xương con của khớp cổ tay khá ít gặp trước đây ở nước ta. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với tình trạng hoại tử vô mạch xương ở các vùng khác nhau trên cơ thể, bắt đầu gặp các bệnh nhân hoại tử vô khuẩn xương nguyệt cho thấy mô hình bệnh lý xương khớp có xu hướng thay đổi. Do tần suất ít gặp nên dễ bỏ sót ở giai đoạn sớm vì vậy chúng tôi giới thiệu sơ lược các nội dung liên quan đến bệnh lý này để bạn đọc tham khảo. Trân trọng!...
HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM QUẠ: 1 NGUYÊN NHÂN CỦA TRIỆU CHỨNG ĐAU VAI PHÍA TRƯỚC (28/05/2017)
HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM QUẠ: 1 NGUYÊN NHÂN CỦA TRIỆU CHỨNG ĐAU VAI PHÍA TRƯỚC
HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM QUẠ: 1 NGUYÊN NHÂN CỦA TRIỆU CHỨNG ĐAU VAI PHÍA TRƯỚC
Hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai (subacromial impingement) có lẽ đã trở nên khá quen thuộc đối với cả các bác sỹ không phải chuyên khoa cũng như các bệnh nhân có vấn đề về khớp vai. Hậu quả của hội chứng này là tình trạng tổn thương gân chóp xoay mà khởi đầu thường là gân trên gai và thường mở rộng ra phía sau đến gân dưới gai và tròn bé. Gân dưới vai là 1 phần của chóp xoay tuy nhiên tổn thương gân dưới vai thường ít liên quan đến tình trạng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai mà thường là hậu quả của 1 tình trạng hẹp khoang khác, ít phổ biến hơn, đó là hẹp khoang dưới mỏm quạ (subcoracoid impingement hoặc coracoid impingement). Hẹp khoang dưới mỏm quạ là nguyên nhân ít phổ biến hơn của các tình trạng đau khớp vai. Tình trạng hẹp khoang làm cho gân dưới vai bị cọ xát giữa mỏm quạ và mấu động nhỏ của xương cánh tay (tương ứng vị trí bám của gân dưới vai). Hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ cũng cần được nghĩ đến khi bệnh nhân có các biểu hiện đau phía trước khớp vai liên quan đến các động tác của khớp vai. Hậu quả lớn nhất của hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ là rách gân dưới vai....
Cứng khớp háng do canxi hoá bất thường quanh khớp (01/05/2017)
Cứng khớp háng do canxi hoá bất thường quanh khớp
Cứng khớp háng do canxi hoá bất thường quanh khớp
Can xi hoá bất thường (Heterotopic ossification: viết tắt là HO, tạm dịch là canxi hoá bất thường) là sự xuất hiện của cấu trúc xương ở mô mềm mà bình thường không có.HO xuất hiện thường sau các chấn thương xương khớp mô mềm, chấn thương tuỷ sống, bỏng hoặc chấn thương sọ não. Sự xuất hiện HO làm hạn chế vận động thậm chí gây mất vận động khớp do tạo thành các cầu xương nối giữa 2 xương tạo nên khớp. Tần suất gặp bệnh nhân HO với các bác sỹ chấn thương chỉnh hình không nhiều, thường ở giai đoạn muộn khi khớp bị đóng cứng và nhu cầu giải phóng khớp để cải thiện chức năng cuộc sống. Nhân 1 trường hợp cầu xương hình thành nối giữa xương chậu và xương đùi gây cứng khớp háng được phẫu thuật thành công, xin giới thiệu sơ lược một số nét chính liên quan đến tổn thương này. Trân trọng !...
GỜ RESIDENT (RESIDENT'S RIGDE) (27/04/2017)
GỜ RESIDENT (RESIDENT'S RIGDE)
GỜ RESIDENT (RESIDENT'S RIGDE)
Xác định vị trí chính xác của diện bám dây chằng chéo trước vào lồi cầu không hề dễ dàng nhất là trong những trường hợp tổn thương cũ, muộn. Thông thường, diện bám sẽ không còn di tích và màng hoạt dịch che phủ kín. Để xác định diện bám, các phẫu thuật viên phải dựa vào các mốc xương sụn,... trong đó có 1 gờ xương nhỏ nằm ngay phía trước của diện bám dây chằng gọi là gờ resident (resident's rigde). ...
GÒ PARSONS (PARSONS' KNOB): MỘT MỐC GIẢI PHẪU CỦA ĐIỂM BÁM DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC KHỚP GỐI (27/04/2017)
GÒ PARSONS (PARSONS' KNOB): MỘT MỐC GIẢI PHẪU CỦA ĐIỂM BÁM DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC KHỚP GỐI
GÒ PARSONS (PARSONS' KNOB): MỘT MỐC GIẢI PHẪU CỦA ĐIỂM BÁM DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC KHỚP GỐI
Những hiểu biết sâu hơn về giải phẫu giúp chúng ta phẫu thuật cho bệnh nhân đạt hiệu quả tốt hơn. Thú vị hơn nữa khi biết rằng có những mốc giải phẫu được mô tả rất sớm, từ khi trang thiết bị chẩn đoán chưa được đầy đủ như ngày hôm nay bởi những bác sỹ, nhà giải phẫu tiên phong trong việc nghiên cứu chẩn đoán và điều trị tổn thương dây chằng chéo trước. Những đóng góp đó được ghi nhận bởi những người đi sau bằng cách đặt tên cho cấu trúc giải phẫu đó. Xin giới thiệu 1 cấu trúc giải phẫu liên quan đến vị trí bám của dây chằng chéo trước khớp gối ở mâm chầy: gò Parsons (Parsons' knob)....
PHỤC HỒI JOINT LINE: MỘT YẾU TỐ QUAN TRỌNG TRONG THAY KHỚP GỐI (19/04/2017)
PHỤC HỒI JOINT LINE: MỘT YẾU TỐ QUAN TRỌNG TRONG THAY KHỚP GỐI
PHỤC HỒI JOINT LINE: MỘT YẾU TỐ QUAN TRỌNG TRONG THAY KHỚP GỐI
Trong phẫu thuật thay khớp gối, những yếu tố được nhắc đến thường xuyên để đảm bảo kết quả phẫu thuật tốt đó là: cân bằng phần mềm và cân bằng khoảng. Joint line (tạm dịch là đường trung bình khớp, trong bài viết này xin giữ nguyên từ tiếng Anh là Joint line) được nhắc đến nhiều hơn trong các ca thay lại khớp gối tuy nhiên kể cả thay khớp gối lần đầu, đảm bảo joint line cũng rất quan trọng. Joint line được coi là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cân bằng phần mềm và động học bình thường của khớp gối trong phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo....
THAY KHỚP VAI ĐẢO NGƯỢC VÀ BỆNH LÝ CHÓP XOAY (17/04/2017)
THAY KHỚP VAI ĐẢO NGƯỢC VÀ BỆNH LÝ CHÓP XOAY
THAY KHỚP VAI ĐẢO NGƯỢC VÀ BỆNH LÝ CHÓP XOAY
Những chỉ định thay khớp nhân tạo đa số khi khớp bị thoái hoá, hỏng về cấu trúc giải phẫu nhưng đối với khớp vai, chỉ định thay khớp cũng được cân nhắc khi cấu trúc giải phẫu khớp còn nguyên nhưng tổn thương cấu trúc phần mềm nặng trong bệnh lý của chóp xoay....
Kiểm soát OFFSET của cổ xương đùi trong thay khớp háng: một yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả phẫu thuật (03/04/2017)
Kiểm soát OFFSET của cổ xương đùi trong thay khớp háng: một yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả phẫu thuật
Kiểm soát OFFSET của cổ xương đùi trong thay khớp háng: một yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả phẫu thuật
Offset của cổ xương đùi (khá khó dịch ra thuật ngữ tương đương tiếng Việt) là khoảng cách tính từ tâm chỏm xương đùi tới trục của xương đùi. Trong phạm vi bài viết này, xin gọi ngắn gọn là OFFSET. Trong trường hợp thay khớp háng nhân tạo, đó là khoảng cách giữa tâm chỏm nhân tạo đến trục của xương đùi....
OFFSET PHÍA SAU CỦA LỒI CẦU XƯƠNG ĐÙI (03/04/2017)
OFFSET PHÍA SAU CỦA LỒI CẦU XƯƠNG ĐÙI
OFFSET PHÍA SAU CỦA LỒI CẦU XƯƠNG ĐÙI
Trong phẫu thuật thay khớp gối, việc phục hồi biên độ gấp gối đóng vai trò khá quan trọng vì liên quan trực tiếp đến các sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân. Để đảm bảo đạt được biên độ gấp gối thì ngoài việc phẫu thuật đạt kết quả tốt thì phục hồi chức năng cũng đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, khớp gối là khớp có biên độ lớn với chuyển động tương đối phức tạp và yếu tố phần mềm đóng vai trò khá quan trọng, do đó việc phục hồi tốt các cấu trúc giải phẫu khớp về mặt động học là tiền đề quan trọng và quyết để việc tập luyện sau mổ thuận lợi và kết quả chung cao. Phẫu thuật thay khớp gối là phẫu thuật có yêu cầu cao về kỹ thuật, đòi hỏi độ chính xác tới mức từng độ hoặc từng milimet. Sự thay đổi các chỉ số của khớp háng nhân tạo so với khớp gối nguyên bản của bệnh nhân sẽ có ảnh hưởng đến kết quả của phẫu thuật như chỉ số OFFSET phía sau của lồi cầu xương đùi dưới đây....
Nakamichi zone: khu vực giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật hội chứng ống cổ tay (26/03/2017)
Nakamichi zone: khu vực giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật hội chứng ống cổ tay
Nakamichi zone: khu vực giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật hội chứng ống cổ tay
Phẫu thuật giải phóng dây chằng ngang trong điều trị hội chứng ống cổ tay khá đa dạng về kỹ thuật, có thể mổ mở kinh điển, mổ xâm lấn tối thiểu, mổ nội soi,... Tuy nhiên, dù là kỹ thuật nào thì vị trí giải phóng dây chằng cũng phải nằm trong khu vực an toàn, đảm bảo giải phóng được dây chằng đồng thời không gây tổn thương các cấu trúc giải phẫu khác. Đó chính là Nakamichi zone (khu vực Nakamichi)....
TẠO HÌNH DÂY CHẰNG CHÉO SAU KỸ THUẬT 2 BÓ (21/03/2017)
TẠO HÌNH DÂY CHẰNG CHÉO SAU KỸ THUẬT 2 BÓ
TẠO HÌNH DÂY CHẰNG CHÉO SAU KỸ THUẬT 2 BÓ
Các phẫu thuật tạo hình dây chằng của khớp gối, nhất là dây chằng chéo trước là phổ biến, không bao giờ đạt được mức độ hoàn hảo tức là dây chằng sau tái tạo có chức năng như dây chằng tự nhiên của khớp gối. Đó là thực tiễn và cũng là lý do để sự hứng thú đối với nghiên cứu các dây chằng của khớp gối dường như bất tận. Đồng thời mong mỏi nâng cao hiệu quả của phẫu thuật tạo hình dây chằng luôn thường trực trong suy nghĩ của các bác sỹ. Những hiểu biết về cấu trúc 2 bó với vai trò chức năng khác nhau đã thúc đẩy xu hướng tạo hình dây chằng chéo trước 2 bó và đã có những giai đoạn tưởng chừng như trở thành ưu thế khi so sánh với kỹ thuật 1 bó. Tuy nhiên, những kết quả thực tiễn lâm sàng cùng với nhận thức được những điều kiện cần thiết để phẫu thuật cũng như những yêu cầu chặt chẽ về sự chính xác của kỹ thuật, thời gian phẫu thuật làm cho lựa chọn tạo hình dây chằng kỹ thuật 2 bó có chọn lọc hơn.
...
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U XƯƠNG MÂM CHẦY: 1 chỉ định ít gặp (10/03/2017)
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U XƯƠNG MÂM CHẦY: 1 chỉ định ít gặp
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U XƯƠNG MÂM CHẦY: 1 chỉ định ít gặp
Thông thường, khi nhắc đến nội soi khớp gối, đa phần các bác sỹ nghĩ tới các chỉ định cơ bản điều trị chấn thương gối như đứt dây chằng, rách sụn, ... hoặc sửa chữa các tổn thương trong bệnh lý của khớp gối như thoái hoá hoặc các bệnh lý khác. Đó là những chỉ định chính của phẫu thuật nội soi khớp gối tuy nhiên thực tiễn lâm sàng tạo ra cho chúng ta cơ hội có thêm những chỉ định thú vị khác nữa.

...
TẠO HÌNH KHOANG DƯỚI MỎM CÙNG VAI: yếu tố quan trọng trong điều trị tổn thương rách gân chóp xoay qua nội soi (08/03/2017)
TẠO HÌNH KHOANG DƯỚI MỎM CÙNG VAI: yếu tố quan trọng trong điều trị tổn thương rách gân chóp xoay qua nội soi
TẠO HÌNH KHOANG DƯỚI MỎM CÙNG VAI: yếu tố quan trọng trong điều trị tổn thương rách gân chóp xoay qua nội soi
Rách gân chóp xoay là thương tổn thường gặp ở bệnh nhân trung niên. Nguyên nhân chính và chủ yếu là do tình trạng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai, ngoài ra có thể có 1 số nguyên nhân khác như chấn thương hoặc bệnh lý khác của bệnh nhân. 
Khi nhắc đến tổn thương rách gân, đa số bệnh nhân nghĩ tới việc phục hồi gân rách là quan trọng nhất tuy nhiên, việc giải quyết yếu tố nguyên nhân, tức là tình trạng hẹp khoang mới là yếu tố chính và quan trọng nhất. Tại sao?. 
...
GÓC XOAY NGOÀI 3º??? (14/02/2017)
GÓC XOAY NGOÀI 3º???
GÓC XOAY NGOÀI 3º???
Khi thực hiện phẫu thuật thay khớp gối, một thông số thường được nhắc đến và yêu cầu độ chính xác khá ngặt nghèo, đó là phải đảm bảo sự xoay ngoài đủ của lồi cầu đùi. ...
Hội chứng hẹp khoang phía trước của khớp cổ chân (24/10/2016)
Hội chứng hẹp khoang phía trước của khớp cổ chân
Hội chứng hẹp khoang phía trước của khớp cổ chân
Hội chứng hẹp khoang phía trước của khớp cổ chân: 1 nguyên nhân gây đau mạn tính khớp cổ chân
Hẹp khoang khớp cổ chân (ankle impingement) được xác định là tình trạng đau và hạn chế cơ học biên độ vận động khớp cổ chân do các bất thường về xương hoặc phần mềm. Hẹp khoang khớp cổ chân có thể gặp ở phía trước, phía trước ngoài, phía sau hoặc phía trên của khớp cổ chân (liên quan chấn thương dây chằng chày mác trước dưới). Trong đó, hẹp khoang phía trước khớp cổ chân là thường gặp nhất. Hẹp khoang phía trước khớp cổ chân thường có biểu hiện chính là đau phía trước của khớp cổ chân. Triệu chứng ......
Xương bả vai lên cao (05/09/2016)
Xương bả vai lên cao
Xương bả vai lên cao
Bệnh xương bả vai lên cao ( winging scapula; elevated scapulae; ...) là thương tổn bẩm sinh không quá hiếm gặp, tuy nhiên dễ bỏ sót. Việc phát hiện sớm sẽ giúp cho việc điều trị ( phục hồi chức năng, phẫu thuật,...) đạt hiệu quả cao. Việc phẫu thuật muộn, khi trẻ lớn, yếu tố chủ yếu được bênh nhân và gia đình cân nhắc là vấn đề thẩm mỹ. Nhân 1 trường hợp bệnh nhân bị xương bả vai lên cao được phẫu thuật thành công, chúng tôi xin giới thiêu sơ lược các nội dung liên quan đến tổn thương này. Trân trọng !...
Bệnh lắng đọng tinh thể Hydroxyapatite (HADD) (21/08/2016)
Bệnh lắng đọng tinh thể Hydroxyapatite (HADD)
Bệnh lắng đọng tinh thể Hydroxyapatite (HADD)
Có thể khi đi khám về khớp hoặc tình cờ chụp phim X quang, bạn nhận thấy có 1 đám cản quang ở quanh khớp của mình, đó cũng có thể là bạn bị bệnh lắng đọng tinh thể Hydroxyapatite ở các điểm bám của gân vùng gần khớp, đặc biệt hay gặp ở khớp vai. Bệnh này chưa xác định rõ nguyên nhân tuy nhiên cũng không đáng e ngại vì là tổn thương lành tính, chủ yếu gây các biểu hiện viêm và đau khớp, một số trường hợp rất ít thì là nguyên nhân trực tiếp gây thoái hoá khớp. Bệnh chủ yếu điều trị nội khoa, 1 số trường hợp có chỉ định can thiệp ngoại khoa. Bài viết này xin giới thiệu các vấn đề chính liên quan đến bệnh lý này cũng như các hình ảnh minh hoạ của các bệnh nhân được chúng tôi điều trị. Trân trọng !...
Thay khớp gối nhân tạo phục hồi chức năng khớp gối sau phẫu thuật cắt bỏ rộng rãi u tế bào khổng lồ mâm chầy (22/05/2016)
Thay khớp gối nhân tạo phục hồi chức năng khớp gối sau phẫu thuật cắt bỏ rộng rãi u tế bào khổng lồ mâm chầy
Thay khớp gối nhân tạo phục hồi chức năng khớp gối sau phẫu thuật cắt bỏ rộng rãi u tế bào khổng lồ mâm chầy
U tế bào khổng lồ của xương là loại thương tổn u khá thường gặp, chiếm khoảng 3-4% các u nguyên phát của xương, thường phát hiện ở người khoẻ mạnh ở giai đoạn 30 – 40 tuổi. Vị trí tổn thương của u tế bào khổng lồ thường ở đầu các xương dài tới 80% các trường hợp và trong đó 75% các trường hợp là xuất hiện quan khớp gối. 80% các trường hợp u tế bào khổng lồ có thể coi là lành tính với tỷ lệ tái phát tại chỗ từ 10-50%, khoảng 10% u tế bào khổng lồ có chuyển dạng ác tính khi tái phát tại chỗ và từ 1-4% có thể có biểu hiện di căn phổi mặc dù có kết quả lành tính tại chỗ về mặt mô học. Sự khó khăn trong điều trị u tế bào khổng lồ liên quan đến vị trí của khối u, đặc biệt là các khối u gần khớp. Sự phá huỷ cấu trúc xương và khớp làm cho việc điều trị tổn thương u phải cân nhắc giữa việc điều trị triệt để khối u và bảo tồn chức năng của khớp. Những trường hợp khối u phá huỷ rộng rãi đầu xương, khả năng bảo tồn chức năng khớp vô cùng khó khăn. Trong thời gian qua, chúng tôi đã thực hiện phẫu thuật tạo hình lại khớp gối bằng khớp gối nhân tạo sau khi cắt bỏ rộng rãi khối u tế bào khổng lồ mâm chầy với kết quả theo dõi ban đầu khả quan. 
...
SỤN CHÊM TRONG HÌNH ĐĨA: 1 TỔN THƯƠNG VÔ CÙNG HIẾM GẶP (03/04/2017)
SỤN CHÊM TRONG HÌNH ĐĨA: 1 TỔN THƯƠNG VÔ CÙNG HIẾM GẶP
SỤN CHÊM TRONG HÌNH ĐĨA: 1 TỔN THƯƠNG VÔ CÙNG HIẾM GẶP
Nhắc đến tổn thương sụn chêm hình đĩa, đa số các phẫu thuật viên khớp gối nghĩ ngay tới tổn thương của sụn chêm ngoài khớp gối vì sự đa số của nó. Sụn chêm hình đĩa lần đầu tiên được Young mô tả năm 1889 với tổn thương sụn chêm ngoài hình đĩa còn sụn chêm trong hình đĩa được mô tả lần đầu tiên vào năm 1941. Sụn chêm trong hình đĩa chỉ chiếm khoảng 0,12% tổng số các trường hợp nên rất hiếm gặp. Điểm lại y văn trong vòng 20 năm (từ 1988 đến 2007) chỉ có 18 trường hợp được thong báo trên y văn tiếng Anh trong đó có 6 trường hợp sụn chêm trong hình đĩa cả hai gối), 1 báo cáo sớm hơn mô tả đến 8 trường hợp lâm sàng vào năm 1982 tuy nhiên dữ liệu chưa thật đầy đủ. Nhân 1 trường hợp sụn chêm trong hình đĩa được chẩn đoán và điều trị phẫu thuật thành công tại bệnh viện Đại Học Y Hà Nội, chúng tôi xin giới thiệu ca lâm sàng và điểm lại những điểm liên quan đến tổn thương này....
Nội soi khớp cổ chân điều trị u xương dạng xương của xương sên (22/09/2015)
Nội soi khớp cổ chân điều trị u xương dạng xương của xương sên
Nội soi khớp cổ chân điều trị u xương dạng xương của xương sên
U xương dạng xương (osteoid osteoma) của xương sên khá hiếm gặp. Lựa chọn điều trị nội soi cổ chân đối với u xương dạng xương của xương sên là phương án điều trị đã đem lại hiệu quả vượt trội, giải quyết triệt để tổn thương, can thiệp tối thiểu do đó hậu phẫu nhẹ nhàng. Nhân 1 trường hợp u xương dạng xương của xương sên được điều trị thành công, chúng tôi xin giới thiệu ca bệnh hiếm gặp này. Bài viết được đăng tải trên báo Sức khoẻ và đời sống. Trân trọng...
Dấu hiệu 2 dây chằng chéo trước (double ACL): một dấu hiệu hiếm gặp của tổn thương rách sụn chêm quai va li (bucket handle tear of meniscus) (05/06/2015)
Dấu hiệu 2 dây chằng chéo trước (double ACL): một dấu hiệu hiếm gặp của tổn thương rách sụn chêm quai va li (bucket handle tear of meniscus)
Dấu hiệu 2 dây chằng chéo trước (double ACL): một dấu hiệu hiếm gặp của tổn thương rách sụn chêm quai va li (bucket handle tear of meniscus)
Nhắc đến tổn thương rách sụn chêm quai va li, có lẽ tất cả các phẫu thuật viên làm phẫu thuật nội soi khớp gối đều biết đến 1 dấu hiệu trên phim cộng hưởng từ khớp gối rất phổ biến và nổi tiếng là “dấu hiệu 2 dây chằng chéo sau” (double PCL sign). Dấu hiệu này có giá trị chẩn đoán chính xác rách sụn chêm quai vali coi như 100% và chỉ định phẫu thuật gần như tuyệt đối. Sự phổ biến của tổn thương rách quai vali sụn chêm trong là do cơ chế chấn thương gây rách sụn chêm trong thường bắt đầu từ sừng sau sụn chêm trong và sau đó lan ra thân rồi phía trước. Tuy nhiên, thực tiễn lâm sàng đa dạng tạo ra cho chúng ta những bất ngờ thú vị và làm cho những hiểu biết về khớp gối ngày càng nhiều hơn và sự hấp dẫn của khớp gối với những nhà “gối học” không bao giờ suy giảm. Xin trân trọng giới thiệu 1 ca lâm sàng hiếm gặp với hình ảnh cộng hưởng từ đặc trưng và điểm lại những thông báo của các tác giả trên thế giới về dấu hiệu này. Trân trọng!
...
U sụn màng hoạt dịch khoang dưới mỏm cùng vai: 1 tổn thương hiếm gặp (04/06/2015)
U sụn màng hoạt dịch khoang dưới mỏm cùng vai: 1 tổn thương hiếm gặp
U sụn màng hoạt dịch khoang dưới mỏm cùng vai: 1 tổn thương hiếm gặp
Đau khớp vai là triệu chứng khá thường gặp ở người tuổi trung niên, đặc biệt là phụ nữ. Có khá nhiều nguyên nhân gây đau khớp vai, trong đó có những nguyên nhân khá hiếm gặp mà đôi khi việc chẩn đoán và điều trị thường ở giai đoạn muộn. Bệnh lý u sụn màng hoạt dịch (synovial osteochondromatosis) được phát hiện và mô tả chủ yếu trong các khớp như khớp gối, khớp háng, khớp vai,…Việc hình thành u sụn ở khu vực ngoài khớp khá hiếm gặp và đặc biệt là khớp vai. Bài viết này xin giới thiệu trường hợp lâm sàng khá hiếm gặp của tổn thương này. Trân trọng !
...
Video bác sỹ Dũng
Image
Liên hệ
Phó giáo sư, Tiến sỹ, Bác sỹ Trần Trung Dũng
Email:
dungbacsy@dungbacsy.com
2014 © Copyright - dungbacsy - Designed by webvietnam.vn