Image
Giảng viên đại học Y Hà Nội - Bác sỹ phẫu thuật chuyên khoa Cơ xương khớp
Phó giám đốc Bệnh viện Đa Khoa Xanh Pôn Hà Nội (St Paul University Hospital)
Lịch khám

1.Dungbacsy’s Office: từ thứ 2 đến thứ 6, 17h – 19h, vui lòng liên hệ trước qua điện thoại 1900 066 811 hoặc 09 44 66 22 99
Link chỉ dẫn phòng khám trên Google Map:  https://goo.gl/maps/S6eoueg4abG2
2.Sáng thứ 2: Bệnh viện St Paul, (Phòng 6, tầng 2, Trung tâm Kỹ thuật cao)
3.Sáng thứ 7: Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội, 1 Tôn Thất Tùng (phòng 201C nhà A5)
Mọi liên hệ cần thiết xin liên lạc với thư ký qua số điện thoại: 1900 066 811 hoặc 09 44 66 22 99
           Khám miễn phí cho bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách tại Dungbacsy's Office vào các buổi khám trong tuần.

           

HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM QUẠ: 1 NGUYÊN NHÂN CỦA TRIỆU CHỨNG ĐAU VAI PHÍA TRƯỚC

HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM QUẠ: 1 NGUYÊN NHÂN CỦA TRIỆU CHỨNG ĐAU VAI PHÍA TRƯỚC
Khớp vai
Hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai (subacromial impingement) có lẽ đã trở nên khá quen thuộc đối với cả các bác sỹ không phải chuyên khoa cũng như các bệnh nhân có vấn đề về khớp vai. Hậu quả của hội chứng này là tình trạng tổn thương gân chóp xoay mà khởi đầu thường là gân trên gai và thường mở rộng ra phía sau đến gân dưới gai và tròn bé. Gân dưới vai là 1 phần của chóp xoay tuy nhiên tổn thương gân dưới vai thường ít liên quan đến tình trạng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai mà thường là hậu quả của 1 tình trạng hẹp khoang khác, ít phổ biến hơn, đó là hẹp khoang dưới mỏm quạ (subcoracoid impingement hoặc coracoid impingement). Hẹp khoang dưới mỏm quạ là nguyên nhân ít phổ biến hơn của các tình trạng đau khớp vai. Tình trạng hẹp khoang làm cho gân dưới vai bị cọ xát giữa mỏm quạ và mấu động nhỏ của xương cánh tay (tương ứng vị trí bám của gân dưới vai). Hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ cũng cần được nghĩ đến khi bệnh nhân có các biểu hiện đau phía trước khớp vai liên quan đến các động tác của khớp vai. Hậu quả lớn nhất của hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ là rách gân dưới vai.
Những mô tả về tình trạng cọ xát cơ học của chóp xoay vào mặt dưới mỏm cùng vai được mô tả từ 1909. Một số bài viết cũng mô tả khả năng có tình trạng cọ xát của gân chóp xoay vào phía trước trong, đó là mỏm quạ tuy nhiên hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ chính thức được mô tả vào năm 1937 và 1941 bởi Meyer và Bennett.
"Khoảng cùng quạ" bao gồm mỏm cùng vai, dây chằng cùng quạ và mỏm quạ. Do kích thước mỏm quạ tương đối biến thiên nên kích thước "khoảng cùng quạ" cũng thay đổi và tương quan giữa khoảng này và gân chóp xoay cũng thay đổi. Một số nghiên cứu trên xác cũng chỉ ra sự mất vững phía trước của khớp vai cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thu hẹp khoảng cách giữa xương cánh tay và mỏm quạ. Sự thay đổi "khoảng cùng quạ" dẫn đến thu hẹp khoảng cách giữa xương cánh tay và mỏm quạ là nguyên nhân của hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ. Tình trạng hẹp khoang này làm cho gân dưới vai bị cọ xát giữa mấu động nhỏ của xương cánh tay và mỏm quạ khi khớp vai chuyển động, đặc biệt các động tác xoay trong, khép vai. Sự cọ xát làm cho gân dưới vai bị viêm và gây đau.
Về bệnh sử, hội chứng này thường gặp nhất ở những bệnh nhân có tiền sử có tình trạng quá tải vận động khớp vai kéo dài, hoặc các vi sang chấn thường xuyên, đặc biệt ở các tư thế động tác nâng vai phía trước, xoay trong và khép vai. Các nghiên cứu chẩn đoán hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ ít hơn so với khoang dưới mỏm cùng vai do tính phổ biến thấp hơn nhưng cũng dựa chủ yếu vào việc thăm khám lâm sàng, x quang, cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ cũng như các nghiệm pháp tiêm để chẩn đoán. Những trường hợp có tổn thương rõ ràng và đơn thuần của rách gân dưới vai là điển hình của hẹp khoang dưới mỏm quạ. Một số trường hợp, hẹp khoang dưới mỏm quạ lại là nguyên nhân của tình trạng đau vai tái diễn sau phẫu thuật sửa chữa gân chóp xoay.
Trong các nghiệm pháp thăm khám lâm sàng để chẩn đoán hẹp khoang dưới mỏm quạ thì có nghiệm pháp coracoid impingement test, nghiệm pháp này thực hiện tương tự nghiệm pháp Hawkin tuy nhiên tư thế tay của bệnh nhân khép vắt chéo qua thân mình, xoay trong cánh tay và nâng về phía trước. Ở tư thế này, mấu động nhỏ sẽ tiến gần về phía mỏm quạ nhất và bệnh nhân sẽ đau khi thực hiện nghiệm pháp nếu có tình trạng hẹp khoang dưới mỏm quạ. Bên cạnh các thăm khám lâm sàng, việc sử dụng thuốc tê lidocaine tiêm vào khoang dưới mỏm quạ cũng có giá trị chẩn đoán tương tự như khi thực hiện cho khoang dưới mỏm cùng vai.
Chẩn đoán hình ảnh có vai trò khá quan trọng trong việc đánh giá tình trạng hẹp khoang dưới mỏm quạ tương tự như khoang dưới mỏm cùng vai. Phim X quang vẫn có giá trị chẩn đoán đặc biệt ở tư thế chụp khớp vai thẳng trước sau và tư thế chụp vuông góc với mặt phẳng xương bả vai. Ở hai tư thế này có thể phát hiện các bất thường về xương có thể là nguyên nhân của hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ. Phim cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ có giá trị đánh giá hình thái mỏm quạ cũng như các tổn thương giải phẫu của khoang dưới mỏm quạ. Việc đánh giá hình thái mỏm quạ có thể dựa vào chỉ số mỏm quạ (coracoid index) với giá trị trung bình là 8,2 mm như công bố của Dine hoặc xác định khoảng cách giữa mỏm quạ và phần gần nhất của xương cánh tay có giá trị tối thiểu 6,8mm như công bố của Gerber. Ngoài ra còn có thể đánh giá các chỉ số khác như kích thước của khoảng quạ cánh tay khi cánh tay xoay trong, ...
Và cuối cùng, 1 phương pháp chẩn đoán nữa là nội soi khớp, thông thường trong những trường hợp rách gân dưới vai, có thể sẽ quan sát trực tiếp hiện tượng cọ xát của gân dưới vai ở vị trí mấu động nhỏ vào mỏm quạ.
Việc điều trị phụ thuộc vào mức độ tổn thương có hay chưa của gân dưới vai, triệu chứng lâm sàng và nhu cầu điều trị của bệnh nhân. Trong trường hợp chưa có tổn thương gân, các biện pháp điều trị bao gồm nội khoa và vật lý trị liệu, điều chỉnh hoạt động của khớp vai, tránh các động tác nâng cánh tay khi cánh tay khép và xoay trong. Điều trị phẫu thuật được đặt ra khi có tổn thương gân dưới vai. Cũng tương tự như khi phục hồi tổn thương gân trên gai do hẹp khoang dưới mỏm cùng vai thì việc phục hồi gân dưới vai chỉ được thực hiện khi kiểm tra thấy hết tình trạng hẹp khoang. Một số trường hợp hẹp nặng, việc tạo hình mỏm quạ có thể đặt ra và được thực hiện với nhiều kỹ thuật khác nhau qua nội soi hoặc mổ mở.
Tóm lại, hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ cần phải được đánh giá và loại trừ ở những bệnh nhân có triệu chứng đau vai phía trước, mặc dù ít phổ biến hơn hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai tuy nhiên cũng có thể có đồng thời 2 hội chứng cùng lúc gây tổn thương các gân cơ trên gai và dưới vai. Trong trường hợp có tổn thương gân dưới vai đơn thuần hoặc phối hợp, việc đánh giá kỹ các chỉ số rất quan trọng và nếu có chỉ định phẫu thuật khâu phục hồi gân cơ dưới vai thì việc đánh giá kỹ qua nội soi tình trạng hẹp khoang và việc can thiệp tạo hình đóng vai trò tiên quyết trong thành công của phẫu thuật.


PGS. TS Trần Trung Dũng (tổng hợp)
Tin cùng chuyên mục
MỎM QUẠ: "NGỌN HẢI ĐĂNG" CỦA KHỚP VAI (26/01/2020)
MỎM QUẠ: "NGỌN HẢI ĐĂNG" CỦA KHỚP VAI
MỎM QUẠ: "NGỌN HẢI ĐĂNG" CỦA KHỚP VAI
Khớp vai là một trong những khu vực khó về mặt bệnh học. Các cấu trúc giải phẫu đan xen nhau về mặt chức năng, sự đa dạng phức tạp về mặt bệnh học làm cho khu vực này luôn hấp dẫn và lý thú. Không chỉ vậy, các phẫu thuật vùng khớp vai: nội soi, thay khớp, kết hợp xương cũng đòi hỏi phẫu thuật viên có hiểu biết sâu sắc về giải phẫu, sinh lý của khớp vai. Trong đó, định hướng phẫu thuật là yếu tố vô cùng quan trọng, giống như người thuỷ thủ đi biển, luôn cần có ngọn hải đăng để định hướng tránh lạc lối thì trong phẫu thuật khớp vai cũng vậy. "Ngọn hải đăng" không chỉ trong các phẫu thuật khớp vai mà còn cả trong thăm khám chẩn đoán và điều trị bệnh lý khớp vai đó, chính là mỏm quạ. Trân trọng giời thiệu với bạn đọc !!!...
Vai trò của dây chằng cùng quạ trong vận động khớp vai và hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai (24/01/2020)
Vai trò của dây chằng cùng quạ trong vận động khớp vai và hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai
Vai trò của dây chằng cùng quạ trong vận động khớp vai và hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai
Khớp vai có thể coi là khớp duy nhất mà sự vững của khớp về mặt chức năng phụ thuộc hoàn toàn vào các cấu trúc phần mềm: cơ, gân, dây chằng. Dây chằng cùng quạ (CAL: coracoacromial ligament) được cho rằng cũng có vai trò quan trọng trong làm vững khớp vai thông qua cả cơ chế tĩnh và động. Bên cạnh đó, CAL từ lâu được cho là có vai trò trong cơ chế bệnh sinh của hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai và rách chóp xoay.
...
PHẪU THUẬT TIKHOFF-LINBERG: “đêm trước” của phẫu thuật thay xương bả vai nhân tạo (23/01/2020)
PHẪU THUẬT TIKHOFF-LINBERG: “đêm trước” của phẫu thuật thay xương bả vai nhân tạo
PHẪU THUẬT TIKHOFF-LINBERG: “đêm trước” của phẫu thuật thay xương bả vai nhân tạo
Việc cắt u 1 khối (en bloc) phần xung quanh khớp vai gồm đầu trên xương cánh ty, xương bả vai và xương đòn được biết đến với tên gọi phẫu thuật Tikhoff-Linberg được biết đến như 1 bước tiến thay thế cho phẫu thuật tháo khớp vai kèm xương bả vai trước đó trong điều trị các u xương bả vai và đầu gần xương cánh tay. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ, phẫu thuật thay thế xương bả vai và khớp vai đã làm cho phẫu thuật Tikhoff Lindberg giảm dần. Trân trọng giới thiệu !!!...
GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ XƯƠNG BẢ VAI: phức tạp ghê ... (12/01/2020)
GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ XƯƠNG BẢ VAI: phức tạp ghê ...
GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ XƯƠNG BẢ VAI: phức tạp ghê ...
Giải phẫu và sinh lý xương bả vai: phức tạp phết nhở ........
U XƯƠNG BẢ VAI: một vài điều cần biết (12/01/2020)
U XƯƠNG BẢ VAI: một vài điều cần biết
U XƯƠNG BẢ VAI: một vài điều cần biết
U XƯƠNG BẢ VAI:
   - Ít gặp
   - Tỷ lệ ác tính cao
   - Thường phát hiện muộn
   - Khó khăn cho chẩn đoán và điều trị
   - Lần đầu tiên thay xương bả vai tại Việt Nam 
...
THAY XƯƠNG BẢ VAI NHÂN TẠO ĐIỀU TRỊ U XƯƠNG: LẦN ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM (12/01/2020)
THAY XƯƠNG BẢ VAI NHÂN TẠO ĐIỀU TRỊ U XƯƠNG: LẦN ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM
THAY XƯƠNG BẢ VAI NHÂN TẠO ĐIỀU TRỊ U XƯƠNG: LẦN ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM
Bệnh lý u xuong bả vai khá hiếm gặp, chiếm khoảng 3,6% tất cả các loại u xương. Đặc điểm chung của u xương bả vai là: ít gặp, tỷ lệ ác tính cao và thường phát hiện muộn. Khó khăn hơn nữa là vấn đề điều trị, vì thường phát hiện muộn và khó khăn trong việc phẫu thuật. Có 2 lựa chọn cơ bản là: cắt bỏ xương bả vai và treo phần mềm khớp vai, chấp nhận tình trạng thiếu hụt về mặt chức năng; 2 là thay xương bả vai giúp cho cải thiện hơn về chức năng nhưng không phải thật sự dễ dàng. Các xương bả vai sẵn có không có và thường phải đo đạc thông số từ bệnh nhân mới đảm bảo chính xác vì vậy số lượng ca mổ thay xương bả vai trên thế giới cũng chưa nhiều. Tại châu Á, tính đến 2009, cũng mới chỉ có 9 ca được thay xương bả vai trong thời gian đánh giá 16 năm (1993-2009), điều đó cho thấy những khó khăn trong việc triển khai phẫu thuật. Sự phát triển của khoa học công nghệ là yếu tố may mắn nhất giúp bác sỹ và bệnh nhân Việt nam có cơ hội tiệm cận hơn với những giải pháp điều trị hiện đại, tiên tiến giúp nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân. Trân trọng giới thiệu !!!...
DẤU HIỆU GIÁN TIẾP GIÚP CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM CÙNG VAI SỚM (12/01/2020)
DẤU HIỆU GIÁN TIẾP GIÚP CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM CÙNG VAI SỚM
DẤU HIỆU GIÁN TIẾP GIÚP CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM CÙNG VAI SỚM
Chẩn đoán sớm hẹp khoang dưới mỏm cùng vai có ý nghĩa rất lớn trong điều trị, giúp cho việc can thiệp bằng phẫu thuật nội soi ở giai đoạn sớm cho bệnh nhân khi chưa có tổn thương rách gân hoặc rách gân nhỏ. Nó giúp cho hiệu quả điều trị về mặt chức năng cho bệnh nhân tốt, can thiệp đơn giản hơn. Tuy nhiên, chẩn đoán sớm hẹp khoang dưới mỏm cùng vai không hề dễ dàng vì khá khó khăn cho định lượng kể cả bằng các biện pháp thăm dò hình ảnh hiện đại. Trong 1 số trường hợp, các dấu hiệu gián tiếp của tình trạng "cọ xát" giúp bác sỹ chẩn đoán tổn thương sớm hơn và có kế hoạch điều trị cho bệnh nhân hiệu quả hơn. Trân trọng giới thiệu !!!...
Trả lại cánh tay cho người phụ nữ 38 tuổi hơn 10 năm không thể tự chải đầu (02/12/2019)
Trả lại cánh tay cho người phụ nữ 38 tuổi hơn 10 năm không thể tự chải đầu
Trả lại cánh tay cho người phụ nữ 38 tuổi hơn 10 năm không thể tự chải đầu
Suckhoedoisong.vn - Một bệnh nhân nữ mới chỉ 38 tuổi phải sống chung 22 năm với căn bệnh viêm khớp dạng thấp. Căn bệnh này khiến chị bị dính khớp khuỷu, bàn tay biến dạng và không thể sinh hoạt bình thường, mọi việc từ chải tóc, tự cầm bát để ăn cơm là không thể....
Báo Lao động - Người phụ nữ 10 năm không thể tự chải đầu (02/12/2019)
Báo Lao động - Người phụ nữ 10 năm không thể tự chải đầu
Báo Lao động - Người phụ nữ 10 năm không thể tự chải đầu
Hơn 10 năm nay những việc như tự mình chải tóc, tự mình cầm bát để ăn cơm là ước mơ mà chị đã từng nghĩ có thể đến kiếp sau mình mới được toại nguyện....
VietTimes - Chữa bệnh thấp khớp hành hạ người phụ nữ 22 năm (02/12/2019)
VietTimes - Chữa bệnh thấp khớp hành hạ người phụ nữ 22 năm
VietTimes - Chữa bệnh thấp khớp hành hạ người phụ nữ 22 năm
VietTimes -- Chị Đỗ Thị N. (Hà Nội) mới 38 tuổi nhưng đã mắc bệnh viêm khớp dạng thấp tới 22 năm. Bệnh khiến cho khớp tay của chị bị biến dạng hoàn toàn, không thể vận động bình thường và thực hiện các hoạt động dù là nhỏ nhất....
“HIỆU ỨNG TREO” TRONG ĐIỀU TRỊ TRẬT KHỚP VAI TÁI DIỄN VỚI KỸ THUẬT LATARJET (02/07/2019)
“HIỆU ỨNG TREO” TRONG ĐIỀU TRỊ TRẬT KHỚP VAI TÁI DIỄN VỚI KỸ THUẬT LATARJET
“HIỆU ỨNG TREO” TRONG ĐIỀU TRỊ TRẬT KHỚP VAI TÁI DIỄN VỚI KỸ THUẬT LATARJET
...
NGUYÊN TẮC CỦA PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI: CẮT XƯƠNG CHUẨN, CÂN BẰNG KHOẢNG HAY PHỐI HỢP (25/06/2019)
NGUYÊN TẮC CỦA PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI: CẮT XƯƠNG CHUẨN, CÂN BẰNG KHOẢNG HAY PHỐI HỢP
NGUYÊN TẮC CỦA PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI: CẮT XƯƠNG CHUẨN, CÂN BẰNG KHOẢNG HAY PHỐI HỢP
Phẫu thuật thay khớp gối có những điểm thú vị riêng của nó, khiến cho người phẫu thuật viên luôn cảm thấy hứng thú và thấy cần phải hiểu rõ hơn về giải phẫu, cơ sinh học vận động, bệnh lý học, thiết kế của khớp nhân tạo,... Do có nhiều yếu tố ảnh hưởng nên ngay từ khi ý tưởng phẫu thuật thay khớp gối bắt đầu, đã hình thành những trường phái phẫu thuật khác nhau dựa trên những nguyên tắc khác nhau nhưng đều nhằm đến đạt được những kết quả tối ưu cho bệnh nhân, đó là kỹ thuật cắt xương chuẩn và kỹ thuật cân bằng khoảng. Trải qua sự phát triển cả về am hiểu nhiều hơn về giải phẫu và cơ sinh học, cũng như phát triển các thiết kế khớp nhân tạo, hai nguyên tắc này có thể giao thoa nhau thể hiện ở các trợ cụ hỗ trợ phẫu thuật. Xin giới thiệu sơ lược các điểm căn bản của hai nguyên tắc khởi thuỷ này của phẫu thuật thay khớp gối. Trân trọng !!!...
MEGAPROSTHESIS AND ALLOGRAFT PROSTHESIS COMPOSITE (02/05/2019)
MEGAPROSTHESIS AND ALLOGRAFT PROSTHESIS COMPOSITE
MEGAPROSTHESIS AND ALLOGRAFT PROSTHESIS COMPOSITE
  • Làm thế nào giải quyết bài toán thiếu xương trong các trường hợp phải thay lại khớp nhân tạo?
  • Làm thế nào giải quyết bài toán thiếu xương trong trường hợp bệnh lý u xương phải cắt đoạn xương và khớp lớn?
  • Các khái niệm khác nhau : osteoplasty; arthroplasty và osteoarthroplasty?
...
Thủ thuật Remplissage trong điều trị trật khớp vai tái diễn với tổn thương Hill Sachs lớn (07/03/2019)
Thủ thuật Remplissage trong điều trị trật khớp vai tái diễn với tổn thương Hill Sachs lớn
Thủ thuật Remplissage trong điều trị trật khớp vai tái diễn với tổn thương Hill Sachs lớn
Tổn thương trật vai tái diễn thường để lại hậu quả ở cả hai phía, về phía ổ chảo xương vai, thường là tổn thương rách sụn viền hoặc kèm tổn thương xương (Bankart phần mềm hoặc xương), về phía chỏm xương cánh tay tạo nên tổn thương Hill Sachs là vị trí chỏm xương cánh tay bị mài mòn do cọ xát khi trật ra khỏi ổ chảo. Tổn thương HillSachs lớn vẫn là 1 thách thức và làm tăng tỷ lệ thất bại của phẫu thuật điều trị trật khớp vai tái diễn nếu không được đánh giá đúng mức và điều trị triệt để. Để giải quyết vấn đề này, có nhiều kỹ thuật khác nhau đã được mô tả trong đó có kỹ thuật Remplissage. Xin trân trọng giới thiệu !!!...
Pseudo-patella baja: giả xương bánh chè xuống thấp sau phẫu thuật thay khớp gối (14/02/2019)
Pseudo-patella baja: giả xương bánh chè xuống thấp sau phẫu thuật thay khớp gối
Pseudo-patella baja: giả xương bánh chè xuống thấp sau phẫu thuật thay khớp gối
Phẫu thuật thay khớp gối ngày càng trở nên phổ biến. Mặc dù những kết quả khả quan do cải thiện mức độ đau, khả năng đi lại tuy nhiên một số thay đổi về cơ sinh học khớp gối cũng như các biến chứng của khớp bánh chè lồi cầu  dẫn đến tình trạng cứng gối, mất vững, vỡ bánh chè, đứt gân bánh chè, xơ hoá trong khớp ..v..v vẫn là những vấn đề trăn trở của các bác sỹ phẫu thuật cũng như làm cho bệnh nhân e ngại khi cân nhắc việc thay khớp gối nhân tạo.Có khá nhiều yếu tố liên quan đến phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi cơ sinh học khớp gối như: sự xoay ngoài của lồi cầu, sự ngả sau của mâm chầy, offset, .... và tương quan của bánh chè và lồi cầu xương đùi, trong đó thường gặp là tình trạng xương bánh chè xuống thấp (Patella baja). ...
CRIMSON DUVET: Tấm chăn của niềm hy vọng (21/09/2018)
CRIMSON DUVET: Tấm chăn của niềm hy vọng
CRIMSON DUVET: Tấm chăn của niềm hy vọng
Đối với phẫu thuật khâu chóp xoay, liền gân là yếu tố cả bác sỹ phẫu thuật và bệnh nhân đều mong muốn vì nó đảm bảo sự thành công của phẫu thuật bền vững. "Crimson duvet" là cấu trúc bao phủ quanh diện khâu chóp xoay, được hình thành bởi dịch máu và tuỷ xương từ xương cánh tay tạo thành sau phẫu thuật khâu chóp xoay, hình ảnh liên tưởng đến cái chăn chùm lên diện khâu của chóp, vì vậy được dịch nôm là tấm chăn màu đỏ. "Crimson duvet" là yếu tố quan trọng giúp cho sự liền gân được thuận lợi, nếu không hình thành được "Crimson duvet" thì khả năng thành công của liền gân rất thấp; do đó, "Crimson duvet" là niềm mong mỏi, hy vọng của các bác sỹ thực hiện phẫu thuật nội soi khâu chóp xoay, chúng tôi dịch văn vẻ là tấm chăn của niềm hy vọng. Hiểu rõ khái niệm này giúp chúng ta thực hiện phẫu thuật hiệu quả hơn. Trân trọng giới thiệu !...
MỎM CÙNG VAI PHỤ (OS ACROMIALE) (24/01/2020)
MỎM CÙNG VAI PHỤ (OS ACROMIALE)
MỎM CÙNG VAI PHỤ (OS ACROMIALE)
Mỏm cùng vai phụ là dị tật liên quan tới quá trình phát triển của các xương của vùng vai trong đó có mỏm cùng vai. Dị tật này nếu không để ý có thể nhầm với gãy mỏm cùng vai. Một số trường hợp phát hiện tình cờ nhưng 1 số trường hợp liên quan đến các tổn thương của chóp xoay, hạn chến vận động vai. Trân trọng !!!...
DỊ TẬT KHÔNG CÓ DÂY CHẰNG CHÉO KHỚP GỐI (24/01/2020)
DỊ TẬT KHÔNG CÓ DÂY CHẰNG CHÉO KHỚP GỐI
DỊ TẬT KHÔNG CÓ DÂY CHẰNG CHÉO KHỚP GỐI
     Bạn có biết dây chằng chéo trước hình thành trước hay sau dây chằng chéo sau ???
     Bạn có biết sự hình thành các dây chằng chéo khớp gối xảy ra vào tuần thứ mấy của thừoi kỳ bào thai ???
     Vai trò quan trọng của các dây chằng chéo khớp gối là làm vững gối, vậy dị tật không có dây chằng chéo (hoặc chéo trước hoặc chéo sau) có cần mổ không ???
Trân trọng giới thiệu bài viết:
...
BỆNH XƯƠNG HOÁ ĐÁ (MARBLE BONE, OSTEOPETROSIS) (07/03/2019)
BỆNH XƯƠNG HOÁ ĐÁ (MARBLE BONE, OSTEOPETROSIS)
Nhắc đến các vấn đề về xương, liên quan đến sự mất cân bằng này, ai cũng nghĩ tới vấn đề loãng xương khi tình trạng tạo xương suy giảm so với huỷ xương và loãng xương có thể coi là vấn nạn toàn cầu, vấn đề thiên niên kỷ,... Bên cạnh loãng xương còn có thể nhắc tới bệnh tạo xương bất toàn (xương thuỷ tinh) cũng có liên quan 1 phần đến sự mất cân bằng này. Như vậy đa số các vấn đề chúng ta thường gặp của xương chủ yếu do sự suy giảm của quá trình tạo xương so với quá trình huỷ xương. Vậy nếu sự mất cân bằng theo chiều ngược lại thì sao ? Nghĩa là quá trình tạo xương mạnh hơn quá trình huỷ xương. Đó chính là cơ chế bệnh sinh của bệnh lý “xương hoá đá” (marble bone, osteopetrosis). Đây là bệnh lý hiếm gặp, những thể nặng thường phát hiện sớm và nguy cơ tử vong cao. Thể nhẹ phát hiện ở người trưởng thành, tiên lượng tốt và thường ít di chứng. Nhân 1 trường hợp thú vị được tình cờ phát hiện xin giới thiệu sơ lược về bệnh lý này. Trân trọng !...
NỘI SOI KHỚP KHUỶU ĐIỀU TRỊ U SỤN MÀNG HOẠT DỊCH HIẾM GẶP PHÁT HIỆN Ở GIAI ĐOẠN 2 CỦA BỆNH (17/07/2018)
NỘI SOI KHỚP KHUỶU ĐIỀU TRỊ U SỤN MÀNG HOẠT DỊCH HIẾM GẶP PHÁT HIỆN Ở GIAI ĐOẠN 2 CỦA BỆNH
NỘI SOI KHỚP KHUỶU ĐIỀU TRỊ U SỤN MÀNG HOẠT DỊCH HIẾM GẶP PHÁT HIỆN Ở GIAI ĐOẠN 2 CỦA BỆNH
U sụn màng hoạt dịch khớp tiến triển qua 3 giai đoạn, trong đó giai đoạn điển hình là giai đoạn 3 với các u sụn tự do trong khớp can xi hoá đủ nên phát hiện dễ dàng trên x quang thường quy. Giai đoạn 1 thường khó chẩn đoán được do biểu hiện chính là tình trạng viêm màng hoạt dịch còn các mầm sụn trong màng hoạt dịch khá khó phát hiện. Giai đoạn 2 là giai đoạn trung gian, có các sụn tự do trong khớp và vẫn có tình trạng viêm màng hoạt dịch. Vấn đề cơ bản là các u sụn chưa can xi hoá hết nên thường không dễ phát hiện trên x quang thường quy do đó thường điều trị như 1 trường hợp viêm màng hoạt dịch và bệnh nhân thường sẽ được chẩn đoán muộn khi có biểu hiện hạn chế vận động khớp và khẳng định chẩn đoán bởi siêu âm hoặc cộng hưởng từ và bởi bác sỹ chuyên khoa....
Tạo hình khớp háng sau phẫu thuật lấy bỏ u tế bào khổng lồ xương chậu (29/06/2018)
Tạo hình khớp háng sau phẫu thuật lấy bỏ u tế bào khổng lồ xương chậu
Tạo hình khớp háng sau phẫu thuật lấy bỏ u tế bào khổng lồ xương chậu
U tế bào khổng lồ thường gặp ở vùng gần khớp. Việc lấy bỏ khối u thường kèm theo yêu cầu tạo hình lại khớp. Trong quá khứ, do tổn thương u xương phá huỷ khớp quá nhiều nên nhiều trường hợp phải chỉ định cắt cụt khá đáng tiếc. Việc lấy bỏ khối u kèm theo tạo hình lại khớp háng là yêu cầu để phục hồi lại chức năng khớp và giúp bệnh nhân đi lại dễ dàng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Xin trân trọng giới thiệu trường hợp được phẫu thuật thành công tại bệnh viện K với sự phối hợp của các bác sỹ phẫu thuật đến từ 3 trung tâm: bệnh viện K, bệnh viện Saint Paul và Trường Đại Học Y Hà Nội....
PATIENT SPECIFIC INSTRUMENT (PSI): một xu hướng trong chấn thương chỉnh hình (09/11/2017)
PATIENT SPECIFIC INSTRUMENT (PSI): một xu hướng trong chấn thương chỉnh hình
PATIENT SPECIFIC INSTRUMENT (PSI): một xu hướng trong chấn thương chỉnh hình
Mỗi cá nhân là 1 thực thể khác biệt, có nét chung và có nét riêng so với các cá nhân khác trong cùng 1 nhóm. Những khác biệt đó gặp ở nhiều khía cạnh: tâm sinh lý, thể chất,...trong đó sự khác biệt về mặt giải phẫu được sự quan tâm đặc biệt của các bác sỹ chấn thương chỉnh hình, nhất là các bác sỹ làm về tái tạo khớp. Đặc điểm giải phẫu khớp có sự liên quan mật thiết với chức năng vận động, vì vậy việc thực hiện phẫu thuật thay thế, khớp nhân tạo càng có đặc điểm gần với khớp tự nhiên thì chức năng của khớp càng đạt mức độ cao, từ đó hình thành khái niệm Patient Specific Instrument (PSI). Trân trọng giới thiệu !...
NEEDLESCOPY: xu hướng mới điều trị phẫu thuật hội chứng ống cổ tay (09/11/2017)
NEEDLESCOPY: xu hướng mới điều trị phẫu thuật hội chứng ống cổ tay
NEEDLESCOPY: xu hướng mới điều trị phẫu thuật hội chứng ống cổ tay
Điều trị hội chứng ống cổ tay bằng phẫu thuật đã đạt được những tiến bộ lớn với xu hướng ít xâm lấn, giảm thiểu được các khó chịu và nguy cơ của phẫu thuật và gây mê hồi sức. Hiện tại, nội soi ống cổ tay được coi như chuẩn mực trong điều trị hội chứng ống cổ tay bằng phẫu thuật với hiệu quả cao, vượt trội so với kỹ thuật mổ truyền thống và ít xâm lấn, gần như không có biến chứng. Tuy nhiên, những mong muốn không ngừng nghỉ của các bác sỹ nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng điều trị cho bệnh nhân đã hình thành xu hướng mới, với kỹ thuật mới mang tên NEEDLESCOPY. Với kỹ thuật này, đòi hỏi người bác sỹ phẫu thuật phải là tổng hoà của bác sỹ nội khoa, bác sỹ chẩn đoán hình ảnh, bác sỹ thăm dò điện cơ và chắc chắn phải là 1 phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm. Xin trân trọng giới thiệu những điểm sơ bộ của NEEDLESCOPY !...
U cuộn mạch mặt ngoài khuỷu tay: một nguyên nhân hiếm gặp gây nhầm lẫn với Tennis Elbow (25/07/2017)
U cuộn mạch mặt ngoài khuỷu tay: một nguyên nhân hiếm gặp gây nhầm lẫn với Tennis Elbow
U cuộn mạch mặt ngoài khuỷu tay: một nguyên nhân hiếm gặp gây nhầm lẫn với Tennis Elbow
Đau mỏm trên lồi cầu ngoài, còn gọi là Khuỷu tay người chơi tennis (Tennis Elbow) khá thường gặp nhất là ở những người chơi thể thao, bản chất của tổn thương này là tình trạng viêm điểm bám của các gân duỗi cổ bàn tay. Điều trị có nhiều hướng tuỳ theo mức độ từ nội khoa, lý liệu pháp cho đến can thiệp phẫu thuật. Việc chẩn đoán cơ bản dựa vào lâm sàng, có thể đánh giá thêm bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm hoặc cộng hưởng từ. Tuy nhiên, không phải tất cả các tình trạng đau mỏm trên lồi cầu ngoài đều là tình trạng viêm gân. Xin giới thiệu 1 trường hợp u cuộn mạch vị trí mỏm trên lồi cầu ngoài khá hiếm gặp được phát hiện và điều trị phẫu thuật thành công. Trân trọng !...
TUMOROSCOPY: khái niệm mới trong điều trị các tổm thương u gần khớp ? (25/07/2017)
TUMOROSCOPY: khái niệm mới trong điều trị các tổm thương u gần khớp ?
TUMOROSCOPY: khái niệm mới trong điều trị các tổm thương u gần khớp ?
Đối với các thuật ngữ y học tiếng anh, tiếp đuôi ngữ scopy nghĩa là nội soi, ví dụ Arthroscopy là nội soi khớp; Laparoscopy là nội soi ổ bụng,... Việc ứng dụng nội soi khớp ngày càng rộng rãi, không chỉ là các tổn thương do chấn thương, do bệnh lý thoái hoá mà bắt đầu sử dụng trong điều trị các tổn thương bệnh lý u vùng gần khớp, tất nhiên có chọn lọc kỹ về mặt chỉ định. Những ứng dụng này được báo cáo với số lượng nhỏ lẻ, không nhiều nhưng đa số các tác giả nhận thấy những ưu điểm của nội soi trong vấn đề đánh giá tổn thương, can thiệp lấy tổ chức u triệt để và quan trọng hơn là bảo tồn được tối đa chức năng của khớp. Việc can thiệp lấy tổ chức u qua nội soi gối không chỉ đơn thuần thực hiện thông qua quan sát từ bên ngoài mà chúng tôi còn đưa camera vào trong khối u để quan sát và đánh giá, đảm bảo lấy được hết tổ chức u. Việc thực hiện quan sát trực tiếp từ bên trong khối u làm chúng tôi nghĩ tới thuật ngữ TUMOROSCOPY ( tumor: khối u và scopy: nội soi) nhằm mô tả rõ hơn kỹ thuật thực hiện khi can thiệp các trường hợp u gần khớp như thế này.

...
Video bác sỹ Dũng
Image
Liên hệ
Phó giáo sư, Tiến sỹ, Bác sỹ Trần Trung Dũng
Email:
dungbacsy@dungbacsy.com
2014 © Copyright - dungbacsy - Designed by webvietnam.vn