Image
Giảng viên đại học Y Hà Nội - Bác sỹ phẫu thuật chuyên khoa Cơ xương khớp
Phó giám đốc Bệnh viện Đa Khoa Xanh Pôn Hà Nội (St Paul University Hospital)
Lịch khám

1.Dungbacsy’s Office: chiều thứ 2 và chiều thứ 5 hàng tuần, 17h – 19h, vui lòng liên hệ trước qua điện thoại 09 44 66 22 99
2.Sáng thứ 2: Bệnh viện St Paul, (Trung tâm Kỹ thuật cao, ĐT: 0966 64 64 88)
3.Sáng thứ 7: Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội, 1 Tôn Thất Tùng (phòng 104 nhà A5, ĐT: 043 574 3456)
Mọi liên hệ cần thiết xin liên lạc với thư ký qua số điện thoại: 09 44 66 22 99
           Khám miễn phí cho bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách tại Dungbacsy's Office vào các buổi khám trong tuần.
 

TẠO HÌNH DÂY CHẰNG CHÉO SAU KỸ THUẬT 2 BÓ

TẠO HÌNH DÂY CHẰNG CHÉO SAU KỸ THUẬT 2 BÓ
Các phẫu thuật tạo hình dây chằng của khớp gối, nhất là dây chằng chéo trước là phổ biến, không bao giờ đạt được mức độ hoàn hảo tức là dây chằng sau tái tạo có chức năng như dây chằng tự nhiên của khớp gối. Đó là thực tiễn và cũng là lý do để sự hứng thú đối với nghiên cứu các dây chằng của khớp gối dường như bất tận. Đồng thời mong mỏi nâng cao hiệu quả của phẫu thuật tạo hình dây chằng luôn thường trực trong suy nghĩ của các bác sỹ. Những hiểu biết về cấu trúc 2 bó với vai trò chức năng khác nhau đã thúc đẩy xu hướng tạo hình dây chằng chéo trước 2 bó và đã có những giai đoạn tưởng chừng như trở thành ưu thế khi so sánh với kỹ thuật 1 bó. Tuy nhiên, những kết quả thực tiễn lâm sàng cùng với nhận thức được những điều kiện cần thiết để phẫu thuật cũng như những yêu cầu chặt chẽ về sự chính xác của kỹ thuật, thời gian phẫu thuật làm cho lựa chọn tạo hình dây chằng kỹ thuật 2 bó có chọn lọc hơn.
Các phẫu thuật tạo hình dây chằng của khớp gối, nhất là dây chằng chéo trước là phổ biến, không bao giờ đạt được mức độ hoàn hảo tức là dây chằng sau tái tạo có chức năng như dây chằng tự nhiên của khớp gối. Đó là thực tiễn và cũng là lý do để sự hứng thú đối với nghiên cứu các dây chằng của khớp gối dường như bất tận. Đồng thời mong mỏi nâng cao hiệu quả của phẫu thuật tạo hình dây chằng luôn thường trực trong suy nghĩ của các bác sỹ. Những hiểu biết về cấu trúc 2 bó với vai trò chức năng khác nhau đã thúc đẩy xu hướng tạo hình dây chằng chéo trước 2 bó và đã có những giai đoạn tưởng chừng như trở thành ưu thế khi so sánh với kỹ thuật 1 bó. Tuy nhiên, những kết quả thực tiễn lâm sàng cùng với nhận thức được những điều kiện cần thiết để phẫu thuật cũng như những yêu cầu chặt chẽ về sự chính xác của kỹ thuật, thời gian phẫu thuật làm cho lựa chọn tạo hình dây chằng kỹ thuật 2 bó có chọn lọc hơn.
Khác với dây chằng chéo trước, vai trò của dây chằng chéo sau được hỗ trợ thêm bởi một số cấu trúc giải phẫu khác cộng với sự khó khăn về mặt phẫu thuật làm cho chỉ định phẫu thuật tạo hình dây chằng chéo sau khá chặt chẽ. Có giai đoạn, một số bác sỹ chủ trương không phẫu thuật đối với tổn thương dây chằng chéo sau mà chủ yếu cho bệnh nhân tập luyện để tăng cường các cấu trúc hỗ trợ để bù lại. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của trang thiết bị và tiến bộ của kỹ thuật nội soi đồng thời là những hiểu biết mới và sâu sắc hơn về vai trò của dây chằng chéo sau khớp gối, đặc biệt hơn là mối liên quan của tổn thương dây chằng chéo sau khớp gối với những tổn thương thoái hoá khớp gối về sau là động lực thúc đẩy xu hướng phẫu thuật tạo hình dây chằng chéo sau tăng lên. Các kết quả phẫu thuật được các tác giả thông báo là khả quan với sự cải thiện về thang điểm lâm sàng, sự tăng lên của mức độ vững gối cũng như sự hài lòng của bệnh nhân với kết quả phẫu thuật nhưng đồng thời các biến chứng có thể xảy ra cũng được thông báo nên các khuyến cáo về chỉ định cũng như việc thực hiện phẫu thuật nên bởi các phẫu thuật viên có kinh nghiệm được đưa ra.

ũng giống như dây chằng chéo trước, những am hiểu sâu sắc về giải phẫu đã cho thấy dây chằng chéo sau cũng có cấu trúc 2 bó với vai trò khác nhau, đó là bó TRƯỚC NGOÀI (AL) và SAU TRONG (PM). Hai bó này có vai trò khác nhau chủ yếu liên quan đến việc làm vững khớp gối ở các tư thế khác nhau. Nghĩa là sự riêng biệt về mặt giải phẫu tương ứng với vai trò khác nhau trong cơ sinh học khớp gối. Và cũng như phẫu thuật tạo hình dây chằng chéo trước, việc tạo hình dây chằng chéo sau không bao giờ đạt đến kết quả hoàn hảo, nghĩa là dây chằng sau tạo hình có hình thái chức năng như dây chằng bình thường. Vì vậy, việc nghiên cứu thúc đẩy tăng cao kết quả tạo hình dây chằng chéo sau vẫn luôn luôn được đặt ra. Những hiểu biết về cấu trúc 2 bó với giải phẫu và chức năng khác nhau của dây chằng chéo sau đã thúc đẩy xu hướng tạo hình dây chằng chéo sau kỹ thuật 2 bó. Các kết quả tạo hình dây chằng chéo sau khớp gối kỹ thuật 2 bó được nhiều tác giả công bố với những kết quả khả quan tuy nhiên, sự phức tạp hơn về kỹ thuật, thời gian cuộc mổ kéo dài cùng những sự tăng thêm về chi phí phẫu thuật cũng như mong muốn xác định phương pháp phẫu thuật tối ưu làm nảy sinh câu hỏi so sánh giữa 2 kỹ thuật tạo hình chéo sau 1 bó và 2 bó. Yan Song Qi và các cộng sự đã tiến hành 1 nghiên cứu rà soát tất cả các báo cáo về tạo hình dây chằng chéo sau 1 bó và 2 bó có so sánh. Các tác giả rút ra kết luận là tạo hình dây chằng chéo sau kỹ thuật 2 bó giúp cải thiện hơn về cơ sinh học khớp gối tuy nhiên kết quả lâm sàng thì chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với kỹ thuật 1 bó. Những kết luận đó không có nghĩa là đối với dây chằng chéo sau, việc tạo hình 1 bó là đủ mà giúp cho việc nghiên cứu tìm hiểu cải tiến kỹ thuật phẫu thuật tiếp tục với mức độ cao hơn và thận trọng hơn.

PGS. TS Trần Trung Dũng (From Houston)

Tin cùng chuyên mục
U cuộn mạch mặt ngoài khuỷu tay: một nguyên nhân hiếm gặp gây nhầm lẫn với Tennis Elbow (25/07/2017)
U cuộn mạch mặt ngoài khuỷu tay: một nguyên nhân hiếm gặp gây nhầm lẫn với Tennis Elbow
U cuộn mạch mặt ngoài khuỷu tay: một nguyên nhân hiếm gặp gây nhầm lẫn với Tennis Elbow
Đau mỏm trên lồi cầu ngoài, còn gọi là Khuỷu tay người chơi tennis (Tennis Elbow) khá thường gặp nhất là ở những người chơi thể thao, bản chất của tổn thương này là tình trạng viêm điểm bám của các gân duỗi cổ bàn tay. Điều trị có nhiều hướng tuỳ theo mức độ từ nội khoa, lý liệu pháp cho đến can thiệp phẫu thuật. Việc chẩn đoán cơ bản dựa vào lâm sàng, có thể đánh giá thêm bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm hoặc cộng hưởng từ. Tuy nhiên, không phải tất cả các tình trạng đau mỏm trên lồi cầu ngoài đều là tình trạng viêm gân. Xin giới thiệu 1 trường hợp u cuộn mạch vị trí mỏm trên lồi cầu ngoài khá hiếm gặp được phát hiện và điều trị phẫu thuật thành công. Trân trọng !...
TUMOROSCOPY: khái niệm mới trong điều trị các tổm thương u gần khớp ? (25/07/2017)
TUMOROSCOPY: khái niệm mới trong điều trị các tổm thương u gần khớp ?
TUMOROSCOPY: khái niệm mới trong điều trị các tổm thương u gần khớp ?
Đối với các thuật ngữ y học tiếng anh, tiếp đuôi ngữ scopy nghĩa là nội soi, ví dụ Arthroscopy là nội soi khớp; Laparoscopy là nội soi ổ bụng,... Việc ứng dụng nội soi khớp ngày càng rộng rãi, không chỉ là các tổn thương do chấn thương, do bệnh lý thoái hoá mà bắt đầu sử dụng trong điều trị các tổn thương bệnh lý u vùng gần khớp, tất nhiên có chọn lọc kỹ về mặt chỉ định. Những ứng dụng này được báo cáo với số lượng nhỏ lẻ, không nhiều nhưng đa số các tác giả nhận thấy những ưu điểm của nội soi trong vấn đề đánh giá tổn thương, can thiệp lấy tổ chức u triệt để và quan trọng hơn là bảo tồn được tối đa chức năng của khớp. Việc can thiệp lấy tổ chức u qua nội soi gối không chỉ đơn thuần thực hiện thông qua quan sát từ bên ngoài mà chúng tôi còn đưa camera vào trong khối u để quan sát và đánh giá, đảm bảo lấy được hết tổ chức u. Việc thực hiện quan sát trực tiếp từ bên trong khối u làm chúng tôi nghĩ tới thuật ngữ TUMOROSCOPY ( tumor: khối u và scopy: nội soi) nhằm mô tả rõ hơn kỹ thuật thực hiện khi can thiệp các trường hợp u gần khớp như thế này.

...
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U TẾ BÀO KHỔNG LỒ BAO GÂN TRONG KHỚP GỐI (11/07/2017)
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U TẾ BÀO KHỔNG LỒ BAO GÂN TRONG KHỚP GỐI
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U TẾ BÀO KHỔNG LỒ BAO GÂN TRONG KHỚP GỐI
U tế bào khổng lồ bao gân màng hoạt dịch (tenosynovial giant cell tumor) thường xuất phát từ màng hoạt dịch của bao khớp, bao gân, túi hoạt dịch,... U tế bào khổng lồ bao gân màng hoạt dịch được mô tả lần đầu tiên bởi Jaffe và cộng sự năm 1941 cũng còn được biết như 1 hình thái của viêm màng hoạt dịch thể lông nốt sắc tố. U tế bào khổng lồ nói riêng và các tổn thương u mô mềm khác trong khớp gối nói chung rất hiếm gặp. Đa số các báo cáo chỉ mô tả 1 trường hợp hoặc 1 vài trường hợp. Nhân 1 trường hợp u tế bào khổng lồ trong khớp gối được điều trị thành công bằng phẫu thuật nội soi, xin trân trọng giới thiệu 1 đoạn video mô tả khối u quan sát qua nội soi....
Hoại tử vô khuẩn xương nguyệt cổ tay(Kienbock disease): một nguyên nhân của đau khớp cổ tay (21/06/2017)
Hoại tử vô khuẩn xương nguyệt cổ tay(Kienbock disease): một nguyên nhân của đau khớp cổ tay
Hoại tử vô khuẩn xương nguyệt cổ tay(Kienbock disease): một nguyên nhân của đau khớp cổ tay
Khớp cổ tay có cấu trúc giải phẫu khá phức tạp với hệ thống 8 xương con giúp cho vận động cổ tay linh hoạt và tinh tế. Bên cạnh đó, nhiều cấu trúc phần mềm: gân, mạch máu và thần kinh đi gần làm cho xác định căn nguyên các khó chịu của vùng khớp cổ tay không dễ dàng. Bệnh lý Kienbock là tình trạng hoại tử vô mạch của xương nguyệt, 1 xương con của khớp cổ tay khá ít gặp trước đây ở nước ta. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với tình trạng hoại tử vô mạch xương ở các vùng khác nhau trên cơ thể, bắt đầu gặp các bệnh nhân hoại tử vô khuẩn xương nguyệt cho thấy mô hình bệnh lý xương khớp có xu hướng thay đổi. Do tần suất ít gặp nên dễ bỏ sót ở giai đoạn sớm vì vậy chúng tôi giới thiệu sơ lược các nội dung liên quan đến bệnh lý này để bạn đọc tham khảo. Trân trọng!...
HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM QUẠ: 1 NGUYÊN NHÂN CỦA TRIỆU CHỨNG ĐAU VAI PHÍA TRƯỚC (28/05/2017)
HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM QUẠ: 1 NGUYÊN NHÂN CỦA TRIỆU CHỨNG ĐAU VAI PHÍA TRƯỚC
HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM QUẠ: 1 NGUYÊN NHÂN CỦA TRIỆU CHỨNG ĐAU VAI PHÍA TRƯỚC
Hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai (subacromial impingement) có lẽ đã trở nên khá quen thuộc đối với cả các bác sỹ không phải chuyên khoa cũng như các bệnh nhân có vấn đề về khớp vai. Hậu quả của hội chứng này là tình trạng tổn thương gân chóp xoay mà khởi đầu thường là gân trên gai và thường mở rộng ra phía sau đến gân dưới gai và tròn bé. Gân dưới vai là 1 phần của chóp xoay tuy nhiên tổn thương gân dưới vai thường ít liên quan đến tình trạng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai mà thường là hậu quả của 1 tình trạng hẹp khoang khác, ít phổ biến hơn, đó là hẹp khoang dưới mỏm quạ (subcoracoid impingement hoặc coracoid impingement). Hẹp khoang dưới mỏm quạ là nguyên nhân ít phổ biến hơn của các tình trạng đau khớp vai. Tình trạng hẹp khoang làm cho gân dưới vai bị cọ xát giữa mỏm quạ và mấu động nhỏ của xương cánh tay (tương ứng vị trí bám của gân dưới vai). Hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ cũng cần được nghĩ đến khi bệnh nhân có các biểu hiện đau phía trước khớp vai liên quan đến các động tác của khớp vai. Hậu quả lớn nhất của hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ là rách gân dưới vai....
Cứng khớp háng do canxi hoá bất thường quanh khớp (01/05/2017)
Cứng khớp háng do canxi hoá bất thường quanh khớp
Cứng khớp háng do canxi hoá bất thường quanh khớp
Can xi hoá bất thường (Heterotopic ossification: viết tắt là HO, tạm dịch là canxi hoá bất thường) là sự xuất hiện của cấu trúc xương ở mô mềm mà bình thường không có.HO xuất hiện thường sau các chấn thương xương khớp mô mềm, chấn thương tuỷ sống, bỏng hoặc chấn thương sọ não. Sự xuất hiện HO làm hạn chế vận động thậm chí gây mất vận động khớp do tạo thành các cầu xương nối giữa 2 xương tạo nên khớp. Tần suất gặp bệnh nhân HO với các bác sỹ chấn thương chỉnh hình không nhiều, thường ở giai đoạn muộn khi khớp bị đóng cứng và nhu cầu giải phóng khớp để cải thiện chức năng cuộc sống. Nhân 1 trường hợp cầu xương hình thành nối giữa xương chậu và xương đùi gây cứng khớp háng được phẫu thuật thành công, xin giới thiệu sơ lược một số nét chính liên quan đến tổn thương này. Trân trọng !...
GỜ RESIDENT (RESIDENT'S RIGDE) (27/04/2017)
GỜ RESIDENT (RESIDENT'S RIGDE)
GỜ RESIDENT (RESIDENT'S RIGDE)
Xác định vị trí chính xác của diện bám dây chằng chéo trước vào lồi cầu không hề dễ dàng nhất là trong những trường hợp tổn thương cũ, muộn. Thông thường, diện bám sẽ không còn di tích và màng hoạt dịch che phủ kín. Để xác định diện bám, các phẫu thuật viên phải dựa vào các mốc xương sụn,... trong đó có 1 gờ xương nhỏ nằm ngay phía trước của diện bám dây chằng gọi là gờ resident (resident's rigde). ...
GÒ PARSONS (PARSONS' KNOB): MỘT MỐC GIẢI PHẪU CỦA ĐIỂM BÁM DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC KHỚP GỐI (27/04/2017)
GÒ PARSONS (PARSONS' KNOB): MỘT MỐC GIẢI PHẪU CỦA ĐIỂM BÁM DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC KHỚP GỐI
GÒ PARSONS (PARSONS' KNOB): MỘT MỐC GIẢI PHẪU CỦA ĐIỂM BÁM DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC KHỚP GỐI
Những hiểu biết sâu hơn về giải phẫu giúp chúng ta phẫu thuật cho bệnh nhân đạt hiệu quả tốt hơn. Thú vị hơn nữa khi biết rằng có những mốc giải phẫu được mô tả rất sớm, từ khi trang thiết bị chẩn đoán chưa được đầy đủ như ngày hôm nay bởi những bác sỹ, nhà giải phẫu tiên phong trong việc nghiên cứu chẩn đoán và điều trị tổn thương dây chằng chéo trước. Những đóng góp đó được ghi nhận bởi những người đi sau bằng cách đặt tên cho cấu trúc giải phẫu đó. Xin giới thiệu 1 cấu trúc giải phẫu liên quan đến vị trí bám của dây chằng chéo trước khớp gối ở mâm chầy: gò Parsons (Parsons' knob)....
PHỤC HỒI JOINT LINE: MỘT YẾU TỐ QUAN TRỌNG TRONG THAY KHỚP GỐI (19/04/2017)
PHỤC HỒI JOINT LINE: MỘT YẾU TỐ QUAN TRỌNG TRONG THAY KHỚP GỐI
PHỤC HỒI JOINT LINE: MỘT YẾU TỐ QUAN TRỌNG TRONG THAY KHỚP GỐI
Trong phẫu thuật thay khớp gối, những yếu tố được nhắc đến thường xuyên để đảm bảo kết quả phẫu thuật tốt đó là: cân bằng phần mềm và cân bằng khoảng. Joint line (tạm dịch là đường trung bình khớp, trong bài viết này xin giữ nguyên từ tiếng Anh là Joint line) được nhắc đến nhiều hơn trong các ca thay lại khớp gối tuy nhiên kể cả thay khớp gối lần đầu, đảm bảo joint line cũng rất quan trọng. Joint line được coi là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cân bằng phần mềm và động học bình thường của khớp gối trong phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo....
THAY KHỚP VAI ĐẢO NGƯỢC VÀ BỆNH LÝ CHÓP XOAY (17/04/2017)
THAY KHỚP VAI ĐẢO NGƯỢC VÀ BỆNH LÝ CHÓP XOAY
THAY KHỚP VAI ĐẢO NGƯỢC VÀ BỆNH LÝ CHÓP XOAY
Những chỉ định thay khớp nhân tạo đa số khi khớp bị thoái hoá, hỏng về cấu trúc giải phẫu nhưng đối với khớp vai, chỉ định thay khớp cũng được cân nhắc khi cấu trúc giải phẫu khớp còn nguyên nhưng tổn thương cấu trúc phần mềm nặng trong bệnh lý của chóp xoay....
Kiểm soát OFFSET của cổ xương đùi trong thay khớp háng: một yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả phẫu thuật (03/04/2017)
Kiểm soát OFFSET của cổ xương đùi trong thay khớp háng: một yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả phẫu thuật
Kiểm soát OFFSET của cổ xương đùi trong thay khớp háng: một yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả phẫu thuật
Offset của cổ xương đùi (khá khó dịch ra thuật ngữ tương đương tiếng Việt) là khoảng cách tính từ tâm chỏm xương đùi tới trục của xương đùi. Trong phạm vi bài viết này, xin gọi ngắn gọn là OFFSET. Trong trường hợp thay khớp háng nhân tạo, đó là khoảng cách giữa tâm chỏm nhân tạo đến trục của xương đùi....
OFFSET PHÍA SAU CỦA LỒI CẦU XƯƠNG ĐÙI (03/04/2017)
OFFSET PHÍA SAU CỦA LỒI CẦU XƯƠNG ĐÙI
OFFSET PHÍA SAU CỦA LỒI CẦU XƯƠNG ĐÙI
Trong phẫu thuật thay khớp gối, việc phục hồi biên độ gấp gối đóng vai trò khá quan trọng vì liên quan trực tiếp đến các sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân. Để đảm bảo đạt được biên độ gấp gối thì ngoài việc phẫu thuật đạt kết quả tốt thì phục hồi chức năng cũng đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, khớp gối là khớp có biên độ lớn với chuyển động tương đối phức tạp và yếu tố phần mềm đóng vai trò khá quan trọng, do đó việc phục hồi tốt các cấu trúc giải phẫu khớp về mặt động học là tiền đề quan trọng và quyết để việc tập luyện sau mổ thuận lợi và kết quả chung cao. Phẫu thuật thay khớp gối là phẫu thuật có yêu cầu cao về kỹ thuật, đòi hỏi độ chính xác tới mức từng độ hoặc từng milimet. Sự thay đổi các chỉ số của khớp háng nhân tạo so với khớp gối nguyên bản của bệnh nhân sẽ có ảnh hưởng đến kết quả của phẫu thuật như chỉ số OFFSET phía sau của lồi cầu xương đùi dưới đây....
Nakamichi zone: khu vực giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật hội chứng ống cổ tay (26/03/2017)
Nakamichi zone: khu vực giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật hội chứng ống cổ tay
Nakamichi zone: khu vực giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật hội chứng ống cổ tay
Phẫu thuật giải phóng dây chằng ngang trong điều trị hội chứng ống cổ tay khá đa dạng về kỹ thuật, có thể mổ mở kinh điển, mổ xâm lấn tối thiểu, mổ nội soi,... Tuy nhiên, dù là kỹ thuật nào thì vị trí giải phóng dây chằng cũng phải nằm trong khu vực an toàn, đảm bảo giải phóng được dây chằng đồng thời không gây tổn thương các cấu trúc giải phẫu khác. Đó chính là Nakamichi zone (khu vực Nakamichi)....
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U XƯƠNG MÂM CHẦY: 1 chỉ định ít gặp (10/03/2017)
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U XƯƠNG MÂM CHẦY: 1 chỉ định ít gặp
NỘI SOI KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ U XƯƠNG MÂM CHẦY: 1 chỉ định ít gặp
Thông thường, khi nhắc đến nội soi khớp gối, đa phần các bác sỹ nghĩ tới các chỉ định cơ bản điều trị chấn thương gối như đứt dây chằng, rách sụn, ... hoặc sửa chữa các tổn thương trong bệnh lý của khớp gối như thoái hoá hoặc các bệnh lý khác. Đó là những chỉ định chính của phẫu thuật nội soi khớp gối tuy nhiên thực tiễn lâm sàng tạo ra cho chúng ta cơ hội có thêm những chỉ định thú vị khác nữa.

...
TẠO HÌNH KHOANG DƯỚI MỎM CÙNG VAI: yếu tố quan trọng trong điều trị tổn thương rách gân chóp xoay qua nội soi (08/03/2017)
TẠO HÌNH KHOANG DƯỚI MỎM CÙNG VAI: yếu tố quan trọng trong điều trị tổn thương rách gân chóp xoay qua nội soi
TẠO HÌNH KHOANG DƯỚI MỎM CÙNG VAI: yếu tố quan trọng trong điều trị tổn thương rách gân chóp xoay qua nội soi
Rách gân chóp xoay là thương tổn thường gặp ở bệnh nhân trung niên. Nguyên nhân chính và chủ yếu là do tình trạng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai, ngoài ra có thể có 1 số nguyên nhân khác như chấn thương hoặc bệnh lý khác của bệnh nhân. 
Khi nhắc đến tổn thương rách gân, đa số bệnh nhân nghĩ tới việc phục hồi gân rách là quan trọng nhất tuy nhiên, việc giải quyết yếu tố nguyên nhân, tức là tình trạng hẹp khoang mới là yếu tố chính và quan trọng nhất. Tại sao?. 
...
GÓC XOAY NGOÀI 3º??? (14/02/2017)
GÓC XOAY NGOÀI 3º???
GÓC XOAY NGOÀI 3º???
Khi thực hiện phẫu thuật thay khớp gối, một thông số thường được nhắc đến và yêu cầu độ chính xác khá ngặt nghèo, đó là phải đảm bảo sự xoay ngoài đủ của lồi cầu đùi. ...
Hội chứng hẹp khoang phía trước của khớp cổ chân (24/10/2016)
Hội chứng hẹp khoang phía trước của khớp cổ chân
Hội chứng hẹp khoang phía trước của khớp cổ chân
Hội chứng hẹp khoang phía trước của khớp cổ chân: 1 nguyên nhân gây đau mạn tính khớp cổ chân
Hẹp khoang khớp cổ chân (ankle impingement) được xác định là tình trạng đau và hạn chế cơ học biên độ vận động khớp cổ chân do các bất thường về xương hoặc phần mềm. Hẹp khoang khớp cổ chân có thể gặp ở phía trước, phía trước ngoài, phía sau hoặc phía trên của khớp cổ chân (liên quan chấn thương dây chằng chày mác trước dưới). Trong đó, hẹp khoang phía trước khớp cổ chân là thường gặp nhất. Hẹp khoang phía trước khớp cổ chân thường có biểu hiện chính là đau phía trước của khớp cổ chân. Triệu chứng ......
Hoại tử xương vô khuẩn (29/09/2016)
Hoại tử xương vô khuẩn
Hoại tử xương vô khuẩn
Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi khá thường gặp ở giai đoạn hiện nay, nguyên nhân được cho là có yếu tố tổn thương mạch nuôi nên đôi khi còn được gọi là hoại tử vô mạch (avascular necrosis of femoral head). Về lý thuyết, hoại tử xương có thể gặp ở nhiều vị trí khác nhau tuy nhiên không phổ biến như ở chỏm xương đùi. Nhân 1 trường hợp hoại tử mâm chầy được chẩn đoán và điều trị, chúng tôi xin giới thiệu những nội dung căn bản liên quan đến bệnh lý này.
...
Xương bả vai lên cao (05/09/2016)
Xương bả vai lên cao
Xương bả vai lên cao
Bệnh xương bả vai lên cao ( winging scapula; elevated scapulae; ...) là thương tổn bẩm sinh không quá hiếm gặp, tuy nhiên dễ bỏ sót. Việc phát hiện sớm sẽ giúp cho việc điều trị ( phục hồi chức năng, phẫu thuật,...) đạt hiệu quả cao. Việc phẫu thuật muộn, khi trẻ lớn, yếu tố chủ yếu được bênh nhân và gia đình cân nhắc là vấn đề thẩm mỹ. Nhân 1 trường hợp bệnh nhân bị xương bả vai lên cao được phẫu thuật thành công, chúng tôi xin giới thiêu sơ lược các nội dung liên quan đến tổn thương này. Trân trọng !...
Bệnh lắng đọng tinh thể Hydroxyapatite (HADD) (21/08/2016)
Bệnh lắng đọng tinh thể Hydroxyapatite (HADD)
Bệnh lắng đọng tinh thể Hydroxyapatite (HADD)
Có thể khi đi khám về khớp hoặc tình cờ chụp phim X quang, bạn nhận thấy có 1 đám cản quang ở quanh khớp của mình, đó cũng có thể là bạn bị bệnh lắng đọng tinh thể Hydroxyapatite ở các điểm bám của gân vùng gần khớp, đặc biệt hay gặp ở khớp vai. Bệnh này chưa xác định rõ nguyên nhân tuy nhiên cũng không đáng e ngại vì là tổn thương lành tính, chủ yếu gây các biểu hiện viêm và đau khớp, một số trường hợp rất ít thì là nguyên nhân trực tiếp gây thoái hoá khớp. Bệnh chủ yếu điều trị nội khoa, 1 số trường hợp có chỉ định can thiệp ngoại khoa. Bài viết này xin giới thiệu các vấn đề chính liên quan đến bệnh lý này cũng như các hình ảnh minh hoạ của các bệnh nhân được chúng tôi điều trị. Trân trọng !...
Thay khớp gối nhân tạo phục hồi chức năng khớp gối sau phẫu thuật cắt bỏ rộng rãi u tế bào khổng lồ mâm chầy (22/05/2016)
Thay khớp gối nhân tạo phục hồi chức năng khớp gối sau phẫu thuật cắt bỏ rộng rãi u tế bào khổng lồ mâm chầy
Thay khớp gối nhân tạo phục hồi chức năng khớp gối sau phẫu thuật cắt bỏ rộng rãi u tế bào khổng lồ mâm chầy
U tế bào khổng lồ của xương là loại thương tổn u khá thường gặp, chiếm khoảng 3-4% các u nguyên phát của xương, thường phát hiện ở người khoẻ mạnh ở giai đoạn 30 – 40 tuổi. Vị trí tổn thương của u tế bào khổng lồ thường ở đầu các xương dài tới 80% các trường hợp và trong đó 75% các trường hợp là xuất hiện quan khớp gối. 80% các trường hợp u tế bào khổng lồ có thể coi là lành tính với tỷ lệ tái phát tại chỗ từ 10-50%, khoảng 10% u tế bào khổng lồ có chuyển dạng ác tính khi tái phát tại chỗ và từ 1-4% có thể có biểu hiện di căn phổi mặc dù có kết quả lành tính tại chỗ về mặt mô học. Sự khó khăn trong điều trị u tế bào khổng lồ liên quan đến vị trí của khối u, đặc biệt là các khối u gần khớp. Sự phá huỷ cấu trúc xương và khớp làm cho việc điều trị tổn thương u phải cân nhắc giữa việc điều trị triệt để khối u và bảo tồn chức năng của khớp. Những trường hợp khối u phá huỷ rộng rãi đầu xương, khả năng bảo tồn chức năng khớp vô cùng khó khăn. Trong thời gian qua, chúng tôi đã thực hiện phẫu thuật tạo hình lại khớp gối bằng khớp gối nhân tạo sau khi cắt bỏ rộng rãi khối u tế bào khổng lồ mâm chầy với kết quả theo dõi ban đầu khả quan. 
...
SỤN CHÊM TRONG HÌNH ĐĨA: 1 TỔN THƯƠNG VÔ CÙNG HIẾM GẶP (03/04/2017)
SỤN CHÊM TRONG HÌNH ĐĨA: 1 TỔN THƯƠNG VÔ CÙNG HIẾM GẶP
SỤN CHÊM TRONG HÌNH ĐĨA: 1 TỔN THƯƠNG VÔ CÙNG HIẾM GẶP
Nhắc đến tổn thương sụn chêm hình đĩa, đa số các phẫu thuật viên khớp gối nghĩ ngay tới tổn thương của sụn chêm ngoài khớp gối vì sự đa số của nó. Sụn chêm hình đĩa lần đầu tiên được Young mô tả năm 1889 với tổn thương sụn chêm ngoài hình đĩa còn sụn chêm trong hình đĩa được mô tả lần đầu tiên vào năm 1941. Sụn chêm trong hình đĩa chỉ chiếm khoảng 0,12% tổng số các trường hợp nên rất hiếm gặp. Điểm lại y văn trong vòng 20 năm (từ 1988 đến 2007) chỉ có 18 trường hợp được thong báo trên y văn tiếng Anh trong đó có 6 trường hợp sụn chêm trong hình đĩa cả hai gối), 1 báo cáo sớm hơn mô tả đến 8 trường hợp lâm sàng vào năm 1982 tuy nhiên dữ liệu chưa thật đầy đủ. Nhân 1 trường hợp sụn chêm trong hình đĩa được chẩn đoán và điều trị phẫu thuật thành công tại bệnh viện Đại Học Y Hà Nội, chúng tôi xin giới thiệu ca lâm sàng và điểm lại những điểm liên quan đến tổn thương này....
Nội soi khớp cổ chân điều trị u xương dạng xương của xương sên (22/09/2015)
Nội soi khớp cổ chân điều trị u xương dạng xương của xương sên
Nội soi khớp cổ chân điều trị u xương dạng xương của xương sên
U xương dạng xương (osteoid osteoma) của xương sên khá hiếm gặp. Lựa chọn điều trị nội soi cổ chân đối với u xương dạng xương của xương sên là phương án điều trị đã đem lại hiệu quả vượt trội, giải quyết triệt để tổn thương, can thiệp tối thiểu do đó hậu phẫu nhẹ nhàng. Nhân 1 trường hợp u xương dạng xương của xương sên được điều trị thành công, chúng tôi xin giới thiệu ca bệnh hiếm gặp này. Bài viết được đăng tải trên báo Sức khoẻ và đời sống. Trân trọng...
Dấu hiệu 2 dây chằng chéo trước (double ACL): một dấu hiệu hiếm gặp của tổn thương rách sụn chêm quai va li (bucket handle tear of meniscus) (05/06/2015)
Dấu hiệu 2 dây chằng chéo trước (double ACL): một dấu hiệu hiếm gặp của tổn thương rách sụn chêm quai va li (bucket handle tear of meniscus)
Dấu hiệu 2 dây chằng chéo trước (double ACL): một dấu hiệu hiếm gặp của tổn thương rách sụn chêm quai va li (bucket handle tear of meniscus)
Nhắc đến tổn thương rách sụn chêm quai va li, có lẽ tất cả các phẫu thuật viên làm phẫu thuật nội soi khớp gối đều biết đến 1 dấu hiệu trên phim cộng hưởng từ khớp gối rất phổ biến và nổi tiếng là “dấu hiệu 2 dây chằng chéo sau” (double PCL sign). Dấu hiệu này có giá trị chẩn đoán chính xác rách sụn chêm quai vali coi như 100% và chỉ định phẫu thuật gần như tuyệt đối. Sự phổ biến của tổn thương rách quai vali sụn chêm trong là do cơ chế chấn thương gây rách sụn chêm trong thường bắt đầu từ sừng sau sụn chêm trong và sau đó lan ra thân rồi phía trước. Tuy nhiên, thực tiễn lâm sàng đa dạng tạo ra cho chúng ta những bất ngờ thú vị và làm cho những hiểu biết về khớp gối ngày càng nhiều hơn và sự hấp dẫn của khớp gối với những nhà “gối học” không bao giờ suy giảm. Xin trân trọng giới thiệu 1 ca lâm sàng hiếm gặp với hình ảnh cộng hưởng từ đặc trưng và điểm lại những thông báo của các tác giả trên thế giới về dấu hiệu này. Trân trọng!
...
U sụn màng hoạt dịch khoang dưới mỏm cùng vai: 1 tổn thương hiếm gặp (04/06/2015)
U sụn màng hoạt dịch khoang dưới mỏm cùng vai: 1 tổn thương hiếm gặp
U sụn màng hoạt dịch khoang dưới mỏm cùng vai: 1 tổn thương hiếm gặp
Đau khớp vai là triệu chứng khá thường gặp ở người tuổi trung niên, đặc biệt là phụ nữ. Có khá nhiều nguyên nhân gây đau khớp vai, trong đó có những nguyên nhân khá hiếm gặp mà đôi khi việc chẩn đoán và điều trị thường ở giai đoạn muộn. Bệnh lý u sụn màng hoạt dịch (synovial osteochondromatosis) được phát hiện và mô tả chủ yếu trong các khớp như khớp gối, khớp háng, khớp vai,…Việc hình thành u sụn ở khu vực ngoài khớp khá hiếm gặp và đặc biệt là khớp vai. Bài viết này xin giới thiệu trường hợp lâm sàng khá hiếm gặp của tổn thương này. Trân trọng !
...
Video bác sỹ Dũng
Image
Liên hệ
Phó giáo sư, Tiến sỹ, Bác sỹ Trần Trung Dũng
Email:
dungbacsy@dungbacsy.com
2014 © Copyright - dungbacsy - Designed by webvietnam.vn